Doanh nghiệp “ngày trở lại”: Nguy cơ thiếu hụt lao động, lỡ đơn hàng

Doanh nghiệp “ngày trở lại”: Nguy cơ thiếu hụt lao động, lỡ đơn hàng

N. Nga
BizLIVE - Thiếu hụt nguồn lao động là kịch bản đầu tiên sẽ xảy ra sau khi dịch COVID-19 được kiểm soát. Đây cũng là một trong những điều kiện đối ứng để doanh nghiệp có thể đón đơn hàng mới hay không.
Dù có thể còn quá sớm để xác định ngày thực sự trở lại với trạng thái bình thường mới tại nhiều tỉnh thành, song ngay lúc này doanh nghiệp đã phải tính trước kế hoạch chuẩn bị nguồn lao động để có thể sẵn sàng, hoặc để bắt nhịp nhanh hơn khi trở lại.
Nguồn lực này đã hao hụt lớn sau gần hai năm khủng hoảng COVID-19, lượng lớn lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất đã bỏ về quê.
Theo báo cáo mới nhất của Cục Việc làm, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, số người bị mất việc làm, phải nghỉ giãn việc, nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu nhập do ảnh hưởng dịch COVID-19 trong quý 2/2021 đã lên đến 12,8 triệu người. Trong số đó, có đến 557.000 người bị mất việc và 4,1 triệu người phải tạm nghỉ/tạm ngừng sản xuất kinh doanh.
Bên cạnh đó, do dịch bệnh kéo dài gần 2 năm mà chưa có có dấu hiệu chấm dứt, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh không còn nhiều dư địa tài chính để chống đỡ cũng như làm sức bật để phục hồi, dẫn đến tình trạng hồi tháng 7 hàng nghìn người lao động mất việc kéo dài di chuyển ồ ạt về quê.
Cục Việc làm nhận định, việc lao động trở về quê là một tín hiệu cho thấy nguy cơ thiếu hụt lao động với số lượng lớn trong và sau dịch. Đặc biệt là sự thiếu hụt lao động phổ thông làm việc trong các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động như ngành da giày, dệt may, lắp ráp linh kiện điện tử…
Dự kiến số lao động về quê quay trở lại làm việc chỉ còn khoảng 60-70% nên nguy cơ thiếu hụt lao động để phục hồi trong trường hợp dịch bệnh được kiểm soát sẽ xảy ra ở các thành phố nơi tập trung nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất.
Cục Việc làm dự báo, thị trường lao động Việt Nam đang tiềm ẩn nguy cơ mang tính dài hạn cả về phía cung lẫn cầu lao động. 
Chia sẻ với BizLIVE, ông Phạm Ngọc Hưng - Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP.HCM (HUBA) cho biết, dù kịch bản phục hồi nền kinh tế sau dịch bệnh đã được tính toán nhưng tác động của dòng lao động trở về quê hương sẽ nảy sinh nhiều khó khăn. Chắc chắn, nguy cơ thiếu hụt nguồn lao động, xáo trộn dây chuyền sản xuất là kịch bản đầu tiên sẽ xảy ra sau khi dịch COVID-19 được kiểm soát, nhu cầu việc tìm người sẽ trở thành một yêu cầu vô cùng lớn đối với các công ty trong các khu công nghiệp, chế xuất… khi trở lại trạng thái bình thường mới.
Hiện nay, giải quyết vấn đề nhân lực để duy trì sản xuất kinh doanh vẫn là quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp. Nhiều lao động sau khi về quê đã tìm công việc khác để kiếm sống, khó kêu gọi họ quay trở lại nếu hiện nay công việc khác của họ đã từng bước ổn định.
“Lúc đó, nếu cơ chế quản lý, điều tiết xã hội không nhịp nhàng, hiệu quả thì một hệ luỵ về nền kinh tế của thành phố sẽ ảnh hưởng rất nặng. Áp lực do việc đàm phán những đơn hàng mới, ký kết hợp đồng mua nguyên vật liệu chuẩn bị cho sản xuất giai đoạn mới sẽ có nhiều nguy cơ rủi ro”, ông Phạm Ngọc Hưng phân tích.
Ông Phạm Quang Anh, Tổng giám đốc Công ty TNHH May mặc Dony (quận Tân Bình, TP.HCM) cho biết, trải qua đợt dịch kéo dài Công ty Dony đã phải áp dụng giảm lương ở một số bộ phận và một số lao động trực tiếp thì phải nghỉ không lương.
Để thích ứng và không rơi vào thế bị động, từ đầu đợt dịch thứ 4, Công ty Dony không tuyển dụng ồ ạt số lượng công nhân mà chỉ tuyển thêm các lực lượng lao động kỹ thuật cao.
"Để chuẩn bị trở lại sau dịch, chủ trương của chúng tôi là chuyển đổi cải thiện nâng cao chất lượng nhân sự, tập trung vào nhân sự chất lượng cao chứ không tập trung vào mở rộng số lượng, mà giai đoạn này muốn tuyển thêm lao động cũng hầu như không có”, ông Quang Anh cho biết.
Theo ông Quang Anh, với những lao động về quê khả năng họ không quay trở lại là rất lớn vì khi hết tháng 9 nếu có thể dỡ bỏ giãn cách thì những người này cũng chưa thể quay trở lại ngay lập tức, bởi hết giãn cách nhưng không đồng nghĩa các cửa ngõ tại các tỉnh thành có dịch được mở tự do ngay. Cộng thêm việc lao động về địa phương chưa chắc họ đã có điều kiện để tiêm đủ ngay 2 mũi vaccine, mà đây lại là yêu cầu quyết định khi quay trở lại làm việc.
Tìm đủ nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu sản xuất đã khó nhưng vấn đề trả lương cho người lao động lại là một bài toán với doanh nghiệp. Chính phủ cũng đã triển khai nhiều gói hỗ trợ cho doanh nghiệp và người lao động giải quyết khó khăn, tuy nhiên vẫn có những phàn nàn vì các gói hỗ trợ chưa thực sự kịp thời .
Ông Phạm Quang Anh cho biết: "Hiện nay Chính phủ nước ta đang có các gói hỗ trợ cho lao động như nghỉ việc không lương là 3.710.000 đồng, bên chúng tôi cũng làm thủ tục để cho người lao động sớm được nhận, vì một miếng khi đói bằng một gói khi no, quan trọng là hỗ trợ lúc này, tuy nhiên đến nay hồ sơ của chúng tôi vẫn chưa được phản hồi". 
Ông Phạm Quang Anh đề xuất cần giải ngân nhanh những gói hỗ trợ và nên giải ngân theo hướng "tiền trảm hậu tấu", tức là hồ sơ doanh nghiệp nào phù hợp thì giải ngân sớm còn sau đó doanh nghiệp nào sai thì phạt thật nặng.
"Nếu rà soát cho kỹ thì ở thời điểm này với số lượng hồ sơ lớn mà nhân lực nhà nước làm việc này mỏng thì không biết đến ngày nào chúng tôi mới nhận được hỗ trợ. Các gói hỗ trợ phải nhanh để doanh nghiệp vượt qua khó khăn, ổn định sản xuất từ đó người lao động mới ổn định việc làm", ông Quang Anh nói.
Đồng quan điểm, ông Phạm Ngọc Hưng, Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP.HCM cho rằng cần phải có những chính sách hỗ trợ ngay cho doanh nghiệp như không phải đóng các loại phí bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn… từ đó mới tạo điều kiện cho doanh nghiệp thu hút lao động trở lại.
Theo ông Hưng, cũng phải có lộ trình để doanh nghiệp từng bước có thể khôi phục nguồn nhân lực khi dỡ bỏ giãn cách, chứ không thể khôi phục ngay lập tức.
"Vấn đề quan trọng trước tiên là cần phải tiêm đủ vaccine cho người lao động và cho phép doanh nghiệp hoạt động bình thường. Tháo gỡ các chốt chặn, trả lại sự lưu thông bình thường cho hàng hóa và người lao động", ông Hưng nhấn mạnh.
Ngoài ra, phải có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đào tạo lại lao động theo yêu cầu của công nghiệp 4.0. Có các chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho giai đoạn bình thường mới.

N. NGA

Xem bản Desktop