Vĩ mô

VEPR: Tăng trưởng GDP quý 3 chưa phản ánh hết tình trạng đứt gãy, kịch bản tốt cả năm sẽ đạt mức 2,5%

Hạ An
BizLIVE -

Theo VEPR, mức tăng trưởng -6,17% trong quý 3 chưa phản ánh hết sự đứt gãy sản xuất và lưu thông hàng hóa, đình trệ của hoạt động kinh doanh.

 
VEPR: Tăng trưởng GDP quý 3 chưa phản ánh hết tình trạng đứt gãy, kịch bản tốt cả năm sẽ đạt mức 2,5%
Sự đứt gãy của hoạt động sản xuất kinh doanh trong quý 3 sẽ để lại ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế (Ảnh minh họa)
Chiều 20/10, Viện Nghiên cứu Kinh tế & Chính sách (VEPR) đã công bố Báo cáo kinh tế quý 3/2021.
Dẫn số liệu từ Tổng cục thống kê về mức tăng trưởng của kinh tế Việt Nam trong quý 3/2021 chỉ đạt -6,17%, VEPR cho biết, đây là mức thấp nhất kể từ khi Việt Nam tính và công bố GDP quý đến nay.
Đồng thời, báo cáo từ VEPR cũng đánh giá, "mức tăng trưởng này phản ánh tác động tiêu cực mạnh mẽ bởi các biện pháp mạnh trong việc phong tỏa các khu vực nhằm hạn chế dịch bệnh đến các khu vực kinh tế".
Nhìn chung, sức khỏe của nền kinh tế suy giảm rất nghiêm trọng. Mức tăng trưởng âm 6,17% trong quý 3 có lẽ chưa phản ánh hết được sự đứt gãy sản xuất và lưu thông hàng hóa, sự đình trệ của các hoạt động kinh doanh diễn ra trên quy mô lớn, sự bất ổn trong đời sống của hàng triệu người lao động.
Sức chống đỡ của doanh nghiệp và người dân ở các vùng có dịch bùng phát trong thời gian vừa qua đã tiến tới gần điểm tới hạn. Kết quả này cho thấy chúng ta không thể tiếp tục sử dụng các biện pháp chống dịch cực đoan được nữa.
Các hoạt động kinh tế cần được “cởi trói” để hoạt động bình thường trở lại. Việc chuyển đơn hàng ra khỏi Việt Nam của một vài doanh nghiệp FDI hay sự rời bỏ các trung tâm sản xuất của các lao động có thể chỉ là tạm thời.
Tuy nhiên, nếu không thay đổi tư duy chống dịch, không đảm bảo được sự liên tục của sản xuất và lưu thông hàng hóa dựa trên các biện pháp phòng chống bệnh dịch hợp lý và hiệu quả thì rất có thể các vấn đề trên sẽ trở thành lâu dài, VEPR khuyến nghị.
Đồng thời, các chuyên gia từ VEPR cũng khuyến nghị, triển vọng hồi phục kinh tế do vậy phụ thuộc rất lớn vào chiến lược ứng xử với đại dịch trong thời gian tới. Bệnh dịch đã lắng xuống, tỷ lệ tiêm phủ vaccine đã ở mức khá cao ở các trung tâm kinh tế, song nhiều doanh nghiệp chưa thể quay trở lại hoạt động bình thường, nhiều hoạt động lưu thông vận tải hành khách và hàng hóa vẫn bị ngưng trệ.
Vì vậy, bên cạnh thay đổi chiến lược thích ứng hiệu quả với đại dịch, các hỗ trợ an sinh xã hội và tài khóa cũng đóng vai trò quan trọng cho sự hồi phục của nền kinh tế. Các gói hỗ trợ cho tới nay là rất hạn hẹp. Trong bối cảnh hiện tại, Việt Nam có thể tạm thời chấp nhận mức thâm hụt ngân sách cao hơn bình thường nhằm an dân và hỗ trợ doanh nghiệp nối lại hoạt động sản xuất.
Tuy nhiên, khi đại dịch qua đi, các kỉ luật tài khóa cần phải được tuân thủ chặt chẽ trở lại để tránh các rủi ro về tài khóa và nợ công trong dài hạn.
Cũng cần lưu ý rằng, dù cố gắng tới đâu, các gói hỗ trợ của Chính phủ vẫn là hữu hạn, không thấm tháp gì với nhu cầu của nền kinh tế. Không có cách nào khác là phải để nền kinh tế tự cứu lấy nó bằng cách “mở cửa” trở lại các hoạt động sản xuất và tiêu dùng.
Nếu các rào cản được gỡ bỏ thì tăng trưởng GDP cả năm trong kịch bản lạc quan có thể đạt khoảng 2% - 2,5%. Còn không, rất có thể tình trạng của quý 3 sẽ lặp lại. Khi đó, Việt Nam không chỉ đối mặt với tình trạng suy thoái kinh tế mà còn là sự khó khăn và tốn kém hơn trong hồi phục sau đại dịch, các chuyên gia từ VEPR nhận định.
Dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2021  
Đối với kịch bản tốt: cả nước thống nhất được các biện pháp thích ứng với bệnh dịch với tinh thần chống dịch nhưng vẫn đảm bảo sản xuất và lưu thông hàng hóa không bị đứt gãy, đặc biệt là ở các trung tâm kinh tế với tỷ lệ tiêm chủng cao. Các hoạt động sản xuất và tiêu dùng được hồi phục một cách chậm chạp nhưng chắc chắn. Các trung tâm kinh tế hoàn thành kế hoạch tiêm chủng ngay trong nửa đầu Quý IV. Tình trạng phong tỏa như trong Quý III không lặp lại. Tăng trưởng kinh tế cả năm được dự báo ở mức 2,0 – 2,5%.
Còn với kịch bản xấu: Bệnh dịch có nguy cơ tái bùng phát trong khi Việt Nam chưa thống nhất được chiến lược ứng phó một cách hiệu quả giữa các tỉnh thành. Tình trạng “đóng – mở” lặp lại ở một số nơi xuất hiện các ca nhiễm gây thiệt hại cho sản xuất. Một số đơn hàng tiếp tục rời khỏi Việt Nam do không đảm bảo được tiến độ sản xuất. Tình trạng thiếu hụt lao động có thể xảy ra do người lao động còn bất an. Chi phí tăng cao khiến nhiều ngành thu hẹp, đặc biệt là trong nông nghiệp. Tăng trưởng kinh tế cả năm chỉ đạt khoảng 1,0-1,5%.

HẠ AN

Xem bản Desktop