Vĩ mô

Tọa đàm trực tuyến: “Cần gói hỗ trợ lớn chưa từng có trước khó khăn chưa từng có”

BIZLIVE
BizLIVE -
Trước khủng hoảng, các gói hỗ trợ Chính phủ đưa ra trước đó “nhắm” vào việc dịch bệnh sẽ ổn định trong quý 2/2021 mà chưa tính tới làn sóng bùng phát thứ 4. Vì vậy, các gói hỗ trợ này chưa đủ liều, hy vọng sẽ có thêm các gói hỗ trợ tăng cường...
Tọa đàm trực tuyến: “Cần gói hỗ trợ lớn chưa từng có trước khó khăn chưa từng có”
Đã 18 tháng Việt Nam biết đến, chịu tác động và ứng phó với đại dịch Covid-19. Song, với những gì đã và đang trải qua, đại dịch cho thấy những ảnh hưởng phức tạp, sâu rộng và có thể còn kéo dài. Điểm kết thực hiện giãn cách xã hội tại nhiều tỉnh/thành trên cả nước hiện nay tạm thời vẫn chưa thể xác định.
Bên ngoài Việt Nam, nhiều nền kinh tế lớn cho thấy đà hồi phục nửa đầu năm 2021 nhưng tính bền vững còn những hoài nghi. Một số ngân hàng trung ương lớn trên thế giới đã manh nha hướng hạn chế chính sách nới lỏng. Áp lực lạm phát nổi lên với giá cả nhiều loại hàng hóa, nguyên vật liệu, xăng dầu, chi phí vận tải… trở thành vấn đề của toàn cầu.
Kinh tế Việt Nam, hoạt động sản xuất kinh doanh của cộng đồng doanh nghiệp, sự vận động của thị trường tài chính - tiền tệ, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản… nằm trong tổng hòa những tác động bên trong và bên ngoài đó.
Bối cảnh với những tác động phức tạp khiến triển vọng kinh tế Việt Nam trở nên khó dự báo hơn, dù chỉ ngắn hạn đến cuối năm 2021. Và hơn hết là ứng xử của chính sách, của doanh nghiệp và nhà đầu tư nên và cần như thế nào?
Nhằm tạo ra một diễn đàn chia sẻ những góc nhìn và phân tích chuyên sâu từ các chuyên gia, những trải nghiệm và ứng xử thực tiễn từ đại diện các doanh nghiệp và ngân hàng thương mại, tương tác với cộng đồng nhà đầu tư… xoay quanh những vấn đề trên, BizLIVE tổ chức Tọa đàm trực tuyến với chủ đề “Điểm đến kinh tế Việt Nam nửa cuối năm 2021”.
Các chuyên gia và đại diện doanh nghiệp tham dự:
- TS. Võ Trí Thành, Chuyên gia kinh tế
- TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia tài chính - ngân hàng
- Ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế - Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
- Ông Nguyễn Xuân Lộc, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc MSH Group (My Second Home)
- Bà Nguyễn Thị Thanh Hương, Tổng giám đốc Đại Phúc Land
- Ông Lý Hoài Văn, Phó Tổng giám đốc Ngân hàng Phương Đông (OCB)
- Ông Ngô Đăng Khoa, Giám đốc Khối ngoại hối, thị trường vốn và Dịch vụ chứng khoán - Ngân hàng HSBC Việt Nam
- Bà Nguyễn Hoài Thu, Giám đốc điều hành Khối Đầu tư chứng khoán và trái phiếu - VinaCapital
- Bà Nguyễn Thị Phương Lam, Giám đốc Phân tích - Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC)
- Ông Nguyễn Chánh Trung, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Tân Long
BizLIVE trân trọng cảm ơn sự đồng hành của MSH Group, MB, VPBank, LienVietPostBank, SeABank.

Mở đầu tọa đàm, TS. Võ Trí Thành nhìn nhận kinh tế thế giới đang có quá nhiều vấn đề, có những yếu tố bất trắc rủi ro đã qua và ở phía trước còn rất nhiều. Trong nước, chính sách kinh tế vĩ mô, triển vọng phục hồi tiếp theo ra sao trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bức tranh của các thị trường tài chính, thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán đang là mối quan tâm lớn hiện nay, trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp.
Nhưng trước hết cần nhìn lại diễn biến kinh tế nửa đầu năm nay, và hôm qua (29/7), tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng đầu năm cũng vừa được Tổng cục Thống kê cập nhật.
 TS. Võ Trí Thành
TS. Cấn Văn Lực:
Kinh tế Việt Nam những tháng đầu năm có một số điểm sáng và điểm tối.
Thứ nhất, mặc dù dịch bệnh thế giới và Việt Nam diễn biến rất phức tạp nhưng vẫn trong tầm kiểm soát. Chúng ta không trong bối cảnh như Indonesia, Ấn Độ hay nhiều nước khác. Chính sách tiêm vắc xin Covid-19 được Chính phủ và Quốc hội quan tâm nhiều hơn và đang đẩy mạnh triển khai.
Thứ hai, về vấn đề lạm phát, trong bối cảnh thế giới, giá cả hàng hóa tăng tương đối nhanh nhưng lạm phát vẫn được kiềm chế tốt so với trước. 6 tháng đầu năm tăng 1,64% so với cùng kỳ. Theo đà này, chúng tôi dự báo cả năm nay, lạm phát bình quân sẽ ở mức khoảng 3%. Giá cả thế giới tăng nhanh nhưng lực cầu yếu, vòng quay đồng tiền còn tương đối chậm.
Về thương mại, xuất nhập khẩu vẫn tăng trưởng tương đối tốt. Xuất khẩu tháng 7 giảm nhẹ so với tháng trước, nhưng tính 7 tháng đầu năm, xuất khẩu tăng 26%, nhập khẩu tăng 35%.
Về vấn đề tỷ giá và lãi suất, tỷ giá rất ổn định, lãi suất đang trên đà giảm tương đối tích cực; tuy nhiên không thể nới lỏng quá mức vì còn liên quan đến dịch chuyển kênh đầu tư và kiềm chế lạm phát.
Cuối cùng, trong bối cảnh dịch bệnh phức tạp, trong 6 tháng đầu năm, 3 tổ chức quốc tế nâng triển vọng tín nhiệm của Việt Nam từ tiêu cực lên ổn định, tích cực.
Ngoài ra, qua kênh ngoại giao chúng ta đang có những bước tiến tích cực về vắc xin Covid-19.
Tuy nhiên cùng lúc đó, chúng ta vẫn đương đầu với nhiều thách thức.
Thách thức về dịch bệnh, chiến tranh thương mại, rủi ro về thiên tai, lũ lụt. Ngoài ra là rủi ro về bong bóng tài sản, bất ổn tài chính toàn cầu. Có thể nói là những rủi ro bên ngoài cần nhận diện để kiểm soát.
Trong nước có những thách thức: dịch bệnh còn nhiều diễn biến phức tạp, chưa biết đỉnh dịch khi nào sẽ đến. Một kịch bản cơ sở mà chúng tôi đưa ra là may ra trong tháng 8 mới có thể kiểm soát được dịch bệnh.
Trong nội bộ, lĩnh vực tiêu dùng bị ảnh hưởng vô cùng tiêu cực. Tiêu dùng tháng 7 giảm 8,3% so với tháng trước, giảm gần 20% so với cùng kỳ. Tổng mức bán lẻ chỉ tăng 0,7%. Trước dịch, tổng mức bán lẻ tăng từ 8-10% bởi sức cầu rất yếu. Sản xuất công ngiệp tăng trưởng rất chậm, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7 tăng chỉ 2,2% so với cùng kỳ. Trước đây, mức này thông thường tăng 9-10%.
Mô hình sản xuất “3 tại chỗ” đang gặp rất nhiều trục trặc và trở ngại.
Về vốn FDI, chúng ta hy vọng về dịch chuyển vốn đầu tư, nhưng vốn FDI 7 tháng của chúng ta đăng ký giảm 11% so với cùng kỳ năm trước, trong khi vốn thực hiện tăng gần 4%. Nhìn vào số liệu dịch chuyển từ Trung Quốc, Hồng Kông sang Việt Nam, năm ngoái tăng nhưng sang đến năm nay sự dịch chuyển dòng vốn này đang giảm gần 50%.
Trong khi đó, giải ngân đầu tư công chậm rất rõ rệt. Số lượng doanh nghiệp mới tháng 7 chỉ tăng 0,7%, còn số lượng doanh nghiệp ngừng hoạt động rất đáng chú ý.
Và vì dịch bệnh nên tiến trình cơ cấu lại nền kinh tế rất chậm chạp, nợ xấu trong hệ thống ngân hàng tăng lên.
Trong bối cảnh đó, chúng tôi cũng đã xây dựng kịch bản: GDP nay đến cuối năm có thể tăng trưởng 5,3-5,5%, lạm phát được dự báo ở mức đâu đó khoảng 3%, lực cầu của chúng ta còn rất yếu.
Từ đó chúng tôi đưa ra một số đề xuất: Chúng ta cần phải nhanh chóng kiểm soát dịch bệnh và đẩy nhanh quá trình tiêm vắc xin Covid-19. Nghị quyết 52 của Chính phủ về giãn hoãn thuế, ngoài ra cần nghiên cứu về gói hỗ trợ mới. Trong lĩnh vực hàng không, cũng cần phải hỗ trợ Bamboo Airways hay Vietjet. Ngoài ra, không thể chủ quan với lạm phát nhưng cùng lúc không nên bóp nghẹt quá.
Cuối cùng cũng cần phải lưu ý đến bong bóng. Các hiện tượng nóng gần đây liên quan đến bất động sản, chứng khoán và vẫn theo dõi các động thái của quốc tế về các gói nới lỏng định lượng, nâng lãi suất.
Từ nay đến cuối năm, điểm sáng là thế giới phục hồi tương đối tốt chính vì vậy xuất khẩu của Việt Nam mới tăng trưởng được gần 30%. Trong nước, nếu tiến trình tiêm vắc xin Covid-19 được đẩy nhanh hơn trong quý 3 thì đến quý 4 sẽ có sự phục hồi.
TS. Võ Trí Thành:
Tôi xin khái quát một số điều như thế này.
Như anh Lực đã nói, tiến trình phục hồi vẫn đang diễn ra nhưng tốc độ có vẻ chậm lại ở tất cả các chỉ số bao gồm: Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, tiêu dùng, tổng mức bán lẻ, đầu tư trực tiếp nước ngoài, câu chuyện gia nhập, rút lui khỏi thị trường của doanh nghiệp. Chúng ta thấy nền kinh tế đang đi xuống theo nghĩa phần tiêu cực, phần không mong muốn đang diễn ra nhiều hơn.
Một điểm nữa, rất nhiều dự báo và cả dự báo ngày hôm nay của anh Cấn Văn Lực cho thấy quá trình phục hồi yếu đi. Vào đầu năm, phần lớn các tổ chức dự báo tăng trưởng kinh tế của Việt Nam theo kịch bản cơ sở ở mức trên 6%. Đến thời điểm này, kịch bản cơ sở mà các tổ chức này đưa ra đa phần tăng trưởng GDP đều ở mức 5 đến 5,5%.
Với kịch bản tiêu cực, trước kia các tổ chức dự báo xấu nhất tăng trưởng GDP của Việt Nam vẫn phải trên 5% nhưng giờ xấu nhất chỉ trên 4%.
Dù vậy, chúng ta vẫn hy vọng vào kịch bản lạc quan sẽ diễn ra.
Tuy nhiên, chuẩn bị cho kịch bản xấu cũng là một cách tốt để gắn liền với 4 kiến nghị mà chuyên gia Cấn Văn Lực đưa ra.
Trong đó, muốn thoát “xấu” nhanh thì phải chống dịch tốt.
Hai là phải có cách thức hỗ trợ mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn.
Ba là kiểm soát kinh tế vĩ mô phải gắn với chính sách một cách khéo léo, vừa ổn định kinh tế vĩ mô, vừa giúp thị trường, doanh nghiệp vượt khó.
Số liệu 7 tháng và riêng tháng 7/2021 đều cho thấy sức khoẻ của doanh nghiệp yếu đi, thể hiện qua số lượng doanh nghiệp gia nhập và rút đi khỏi thị trường.
Nhân chuyện này, chúng tôi muốn hỏi anh Đậu Anh Tuấn - Trưởng ban Pháp chế - Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho bức tranh cụ thể hơn về doanh nghiệp trong những tháng còn lại của năm 2021.
Nhìn nhận về bức tranh của doanh nghiệp Việt Nam những tháng đầu năm, ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế - Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết, doanh nghiệp tiếp tục gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt khi dịch bùng phát tại các khu công nghiệp, trung tâm kinh tế quan trọng của đất nước.
Có thể dùng một từ để mô tả về lực lượng chống dịch đó là “quá tải”. Chính quyền phải căng mình chống dịch, nhiều cán bộ, lãnh đạo nhà nước cấp cơ sở thời gian ngủ chỉ 3-4 tiếng/ngày. Doanh nghiệp cũng kiệt sức để đối phó với dịch.
Tại kỳ họp Quốc hội vừa rồi nhiều đại biểu cũng đã đại diện nói lên những khó khăn của người dân, doanh nghiệp.
Ông Tuấn cũng đồng tình với ông Cấn Văn Lực về dự báo thời gian tới hoạt động kinh tế - xã hội nói chung và doanh nghiệp nói riêng vẫn phụ thuộc vào công tác chống dịch.
Ông cho biết, 7 tháng đầu năm nay khác với năm 2020. Nếu như năm 2020 tác động của dịch đến các doanh nghiệp cũng rất lớn nhưng chủ yếu là doanh nghiệp du lịch, hàng không, dịch vụ, ăn uống… Khảo sát của VCCI cho thấy, 87% doanh nghiệp cho rằng dịch đã tác động tiêu cực, hoặc rất tiêu cực đến hoạt động của doanh nghiệp, tình trạng sa thải người lao động cũng khá phổ biến.
Dịch bệnh sang năm 2021 tác động lại càng nghiêm trọng hơn, lan rộng sang nhiều doanh nghiệp tại khu công nghiệp tại Bắc Giang, Bắc Ninh, Bình Dương, TP.HCM, Long An… Mức độ lan rộng của dịch bệnh tại các khu công nghiệp hiện rất lớn.
Con số thống kê thường trễ hơn so với thực tế nhưng chắc chắn ảnh hưởng đến doanh nghiệp, xuất khẩu, sản xuất, lao động thực tế chắc chắn sẽ tăng cao hơn trong những tháng còn lại.
Con số 7 tháng chưa phản ánh hết thực tế nên những tháng tới cần có giải pháp quyết liệt hơn để hỗ trợ doanh nghiệp.
VCCI nhận thấy quá nhiều doanh nghiệp phản ánh gặp khó khăn, bất lực. Đặc biệt gần đây nhiều doanh nghiệp phản ánh khó khăn trong vận chuyển, lưu thông hàng hóa. Việc tắc nghẽn lưu thông như tắc mạch máu trong cơ thể, ảnh hưởng nhiều đến hoạt động sản xuất cũng như lưu thông, xuất khẩu hàng hóa,…
Hôm qua (29/7), Chính phủ đã có văn bản để tạo điều kiện cho hàng hóa lưu thông. Hy vọng điều này sẽ giúp giải tỏa tắc nghẽn trong lưu thông hang hóa và hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp sản xuất đang lúng túng trong duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh. Họ không chỉ phải duy trì sản xuất, cái quan trọng nhất với họ là khách hàng. Một doanh nghiệp ở Bình Dương có khách hàng ở thế giới, tắc nghẽn xuất khẩu thì sẽ dẫn đến mất bạn hàng, khách hàng có thể tìm nơi cung cấp ở các quốc gia khác chứ không chờ đợi doanh nghiệp.
Ông Võ Trí Thành: Khảo sát của VCCI tiến hành năm ngoái cho thấy 85-87% doanh nghiệp chịu tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19, con số này sang năm nay chắc cũng tương đương. Tuy nhiên, một điểm đáng chú ý là sức chịu đựng của doanh nghiệp năm nay đã cao hơn.
Đối với vấn đề logistics, thị trường rất mở nên đơn đặt hàng của đối tác quan trọng. Chỉ số PMI tháng 6 của Việt Nam đã xuống rất thấp, 44 điểm, tháng 7 chưa có số liệu nhưng cũng khó trên 50 được. Logistics là khó khăn chung của kinh tế thế giới và Việt Nam còn khó khăn hơn do dịch đang bao vây các trung tâm kinh tế, các khu công nghiệp.
Đó là câu chuyện chung, còn bây giờ chúng ta sẽ đến những câu chuyện cụ thể, của Tập đoàn Tân Long.
Ông Nguyễn Chánh Trung, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Tân Long:
Tất cả chúng ta đều biết, từ cuối tháng 4 đến nay dịch bệnh bùng lên và tới giờ chúng ta vẫn chưa nhìn thấy đỉnh dịch. Theo đó, 6 tháng cuối năm chúng tôi cho rằng tình hình sẽ rất khó khăn.
Tập đoàn Tân Long đã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp 20 năm và đã có những chuyển dịch nhất định. Năm 2015 chúng tôi đã giữ vị trí số 1 về nhập khẩu nông sản đầu vào cho ngành thức ăn chăn nuôi. Chúng tôi cũng xây dựng hệ thống nhà máy hiện đại, chuyên nghiệp. 6 tháng đầu năm mặc dù chi phí logistics rất cao, chúng tôi cũng đã nhập khẩu gần 1,8 triệu tấn lúa mì, ngô, khô đậu.
Từ 2015 chúng tôi cũng đã đầu tư sâu vào lúa gạo, đầu tư vào ngay vùng trồng. Hiện nhà máy gạo Hạnh Phúc cũng đã bắt đầu đi vào hoạt động. Chúng tôi cũng đã xây dựng kênh phân phối, phát triển nhãn hiệu gạo A An.
Hồi tháng 3/2020, sau cuộc họp với Bộ Công Thương, là Chính phủ quy định tạm dựng xuất khẩu để ổn định thị trường trong nước do tắc cục bộ nguồn cung trong khi nhu cầu tăng cao. Chúng tôi ý thức được phải xây dựng được các kênh phân phối, cân bằng giữa xuất khẩu và phục vụ trong nước. Đến nay ngành gạo của công ty đã gặt hái được những thành công nhất định, dù vậy vẫn gặp nhiều khó khăn do dịch.
Chúng tôi đã điều chỉnh mục tiêu xuất khẩu, không tự tin tăng trưởng 50% như kế hoạch ban đầu mà chuyển hướng sang xây dựng nội lực, xây dựng các kênh phân phối phục vụ thị trường nội địa. Hiện Tân Long đang có 8 nhà máy quy mô lớn tại Đồng Tháp, Cần Thơ, An Giang, ngoài ra còn có các kho trung chuyển ở các tỉnh.
Hiện chúng tôi đang áp dụng “3 tại chỗ”, tuy nhiên, có một số khó khăn do một số khâu có nhân công không thuộc biên chế công ty như khâu bốc vác, vẫn chuyển…
Ở kênh phân phối, khi đưa hàng về các kho trung chuyển thì có ca dương tính nên hàng hóa bị kẹt, cũng may là chúng tôi đã xây dựng chuỗi 40 cửa hàng nên vẫn hoạt động bình thường. Mỗi ngày chúng tôi vẫn đảm bảo đáp ứng từ  2,5-3 ngàn đơn hàng. Chỉ thị 16 kèm Chỉ thị 12 của Thành ủy TP.HCM, quy định thắt chặt về quy định giao hàng nên chúng tôi chỉ làm việc đến 4 - 5h chiều nên cũng gặp khá nhiều khó khăn.

TS. Võ Trí Thành: Chứng khoán cả năm 2020 và tính đến cuối tháng 6 năm nay có tương quan giữa tình hình kinh tế chung, số lượng tài khoản mở mới cao, đặc biệt là F0 tăng mạnh. Sang đến tháng 7 năm nay, câu chuyện có vẻ khác. Câu chuyện hiện nay không chỉ là cái dùng dằng của thị trường lên xuống mà còn liên quan đến nhiều câu chuyện khác. Các chuyên gia chứng khoán có ý kiến gì về diễn biến này?
Bà Nguyễn Hoài Thu:
Như chúng ta đã biết, thị trường chứng khoán là sự phản ánh lại kỳ vọng của nhà đầu tư về nền kinh tế nên thị trường chứng khoán nửa đầu năm đã có nhiều diễn biến rất tốt vì kỳ vọng vào nền kinh tế và chứng khoán trước làn sóng bùng dịch thứ 4 vô cùng tích cực.
Ở thời điểm cuối tháng 4 đầu tháng 5 khi mới bùng dịch thứ 4, thì kỳ vọng về tăng trưởng kinh tế vẫn tốt. Ngoài ra, nhà đầu tư sử dụng kinh nghiệm từ các đợt bùng dịch gần đây, thị trường có giảm nhưng chỉ trong ngắn hạn. Ví dụ cuối tháng 1/2021, sự sụt giảm của thị trường khoảng 16% trong 10 ngày và sau đó phục hồi nhanh.
Khi đợt dịch 4 mới xảy ra, nhà đầu tư phản ứng tích cực bởi họ tin dịch bệnh lần này sẽ không quá nghiêm trọng. Tuy nhiên sau nhiều tuần, nhìn thấy diễn biến dịch bệnh khó lường, còn thị trường đã lập đỉnh trên 1.400 điểm, cộng thêm kỳ vọng nền kinh tế sẽ chịu ảnh hưởng, tăng trưởng kinh tế chắc chắn sẽ bị điều chỉnh xuống.
Đầu năm các công ty chứng khoán, quản lý quỹ đều kỳ vọng tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán có thể lên đến 40% nhưng cho đến giờ những người tham gia vào thị trường kể cả những nhà đầu tư chuyên nghiệp như chúng tôi cũng phải giảm kỳ vọng.
Ở hiện tại, thị trường đang phân vân, cố gắng để cân bằng. Nửa đầu năm thị trường đi lên, tất cả công ty trong các lĩnh vực đều đi lên, lên nhiều nhất vẫn là ngân hàng, chứng khoán, thép, IT. Còn nửa sau của năm, thị trường sẽ phân hóa mạnh hơn, công ty có lợi nhuận của cả năm không chịu ảnh hưởng bởi dịch bệnh thì giá cổ phiếu sẽ có tăng trưởng tốt hơn.
Rất nhiều đối tượng trong thị trường bị ảnh hưởng bởi đợt dịch bệnh kéo dài này, ví như hàng không hay du lịch dịch vụ. Ngoài ra những công ty làm trong ngành bán lẻ cũng chịu tác động khá nhiều. Thị trường chứng khoán tuy nhiên lại là leading indicator của nền kinh tế. Nhiều người tin kinh tế sẽ phục hồi vào quý 4, thì thị trường chứng khoán cũng có những lý do để bắt đầu phục hồi sớm hơn.
TS. Võ Trí Thành:
Quay lại câu chuyện vĩ mô liên quan đến thị trường tài chính. Khác với cuộc khủng hoảng tài chính 2008-2009, các ngân hàng đã vững vàng hơn trong cuộc khủng hoảng dịch bệnh. Trong bối cảnh khó khăn, nhiều ngân hàng vẫn tăng trưởng tốt.
Các diễn giả đánh giá thế nào về mức độ lành mạnh của hệ thống tài chính nói chung, đặc biệt là ngành ngân hàng hiện nay? Rủi ro nợ xấu phía trước đối với ngành ngân hàng như thế nào trong bối cảnh doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn?
Ông Ngô Đăng Khoa – HSBC Việt Nam:
Các tổ chức tín dụng (TCTD) đã nâng cao năng lực quản trị đặc biệt về vốn qua đó tăng hệ số an toàn vốn (CAR) và đáp ứng Basel II. Các ngân hàng đã tập trung đầu tư công nghệ, kỹ thuật số, thanh toán online. Không chỉ cá nhân mà các doanh nghiệp cũng sử dụng các dịch vụ của ngân hàng nhiều hơn. Tiền trong tài khoản của doanh nghiệp nhiều hơn giúp tăng tiền gửi không kỳ hạn (CASA), nguồn vốn chi phí rẻ giúp thúc đẩy lợi nhuận của các ngân hàng.
Trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp, phần lớn các doanh nghiệp không đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh thay vào đó để tiền trong tài khoản phòng ngừa. CASA tăng dẫn đến chi phí vốn giảm, hỗ trợ thu nhập từ lãi tăng do lãi biên (NIM) giãn ra. Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng tăng nguồn thu ngoài lãi như thu phí bảo hiểm, bảo lãnh, thu xếp hợp vốn, giấy từ có giá,...
Ngoài ra, việc xử lý nợ xấu hiệu quả những năm vừa qua đã tạo luân chuyển vốn, tăng lãi bất thường cho các ngân hàng. Thêm nữa, Thông tư 01 về việc giãn trích lập nợ xấu do ảnh hưởng bởi Covid-19 góp phần giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Về thị trường tiền tệ, thanh khoản thị trường liên ngân hàng rất tốt, 6 tháng đầu năm lãi suất overnight chỉ 0,12-0.2% và hiện giờ chỉ tầm 0,6-0,7%. Do đó, khi chúng ta giảm lãi suất thì thị trường 2 cũng không thay đổi quá nhiều.
Bên cạnh đó, gần đây Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và các ngân hàng đã bắt đầu thanh toán cho nhau những khoản mà NHNN mua ngoại tệ khoảng vài tỷ đô tương ứng tiền đồng sẽ được bơm thêm vào hệ thống. Các ngân hàng sẽ hỗ trợ tốt hơn cho doanh nghiệp thông qua các hoạt động cho vay.
Về chính sách tiền tệ, Việt Nam luôn nhất quán về vấn đề ổn định kinh tế vĩ mô bao gồm 2 yếu tố chính là lạm phát và tỷ giá.
Về lạm phát, chúng ta có những áp lực nhất định tuy nhiên HSBC dự đoán lạm phát khoảng 2,8%, năm sau 3,4-3,5% thấp hơn mục tiêu Chính phủ đặt ra là 4%. Do đó không đáng lo ngại nhiều nhưng vẫn cần phải lưu ý đặc biệt trong bối cảnh tình lạm phát hàng hóa trên thế giới.
Việt Nam là nước nhận được ngoại tệ do đó tiền đồng sẽ tăng giá từ 0,5-0,6% từ đầu năm. Tỷ giá do thị trường quyết định và trong biên độ giao dịch như vậy được đánh giá là ổn định. Tỷ giá tiền đồng dự báo sẽ giao động trong khoảng 23.100 trong năm nay.
Đối với các NHTW thế giới, Fed khả năng sẽ tăng lãi suất vào 2023 trong 2 lần tháng 6 và tháng 12 mỗi lần 0,25 điểm. Với tình hình biến chủng Delta lây lan nhanh gần đây tại Mỹ và Châu Âu có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Nhưng nhìn chung kinh tế của các nước phát triển như Mỹ, Châu Âu vẫn sẽ tăng trưởng khả quan.
Lạm phát của Mỹ khoảng tầm 3,4% trong năm nay, cao hơn mức Fed đặt ra 2% nhưng năm sau sẽ giảm xuống còn 1,6%. Châu Âu khoảng tầm 4% và Trung Quốc khoảng 8,5%. Những nền kinh tế đó tăng trưởng nhanh sẽ hỗ trợ Việt Nam xuất khẩu.
Về chính sách ngân hàng hỗ trợ của ngân hàng với các doanh nghiệp, HSBC cũng cố gắng giảm lãi suất và đồng hành cùng doanh nghiệp trong thời gian khó khăn của dịch bệnh Covid-19.

Ông Lý Hoài Văn, Phó Tổng giám đốc OCB:
Về hệ thống tài chính, các ngân hàng trong 2 năm vừa qua hoạt động tốt nhờ 4 yếu tố:
Thứ nhất, là sự khác nhau giữa khủng hoảng dịch bệnh với khủng hoảng tài chính năm 2008-2009. Mức tác động là khác nhau. Trong cuộc khủng hoảng cách đây hơn 1 thập kỷ, thị trường gần như mất thanh khoản, rủi ro về đối tác ảnh hưởng lớn đến thanh khoản toàn ngành ngân hàng. Tuy nhiên trong cuộc khủng hoảng lần này, hệ thống tài chính vẫn đang hoạt động tốt nhờ chính sách của NHTW can thiệp kịp thời hỗ trợ nền kinh tế đặc biệt là doanh nghiệp.
Thứ hai, trong 2 năm vừa qua, kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng khả quan với GDP trên 6%, lạm phát và lãi suất được duy trì ổn định giúp ngành ngân hàng hoạt động tốt.
Thứ ba, sau cuộc khủng hoảng 2008-2009, Chính phủ đã đi qua giai đoạn cơ cấu 5 năm lần thứ nhất và ngân hàng đã đáp ứng được năng lực tài chính, đặc biệt về vốn. Bên cạnh đó, việc xử lý nợ xấu được đẩy nhanh, phần lớn các ngân hàng đã xử lý được nợ xấu bán cho VAMC giúp nâng cao nền tảng của ngân hàng tốt hơn.
Thứ tư, các ngân hàng đã mở rộng các sản phẩm dịch vụ, đa dạng hóa nguồn thu. Trước đây, thu tín dụng trên 90% thì đến nay các ngân hàng đã giảm được sự phụ thuộc vào tín dụng. Đây là nền tảng giúp ngân hàng hoạt động tốt.

Nhìn nhận về thị trường chứng khoán thời gian qua, bà Nguyễn Thị Phương Lam, Giám đốc Phân tích - Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho biết, thống kê của Chứng khoán Rồng Việt cho thấy cổ phiếu của nhiều nhóm ngành có tăng trưởng đã chứng kiến sự tăng giá khá mạnh.

Sự tăng trưởng của thị trường chứng khoán thời gian tới phụ thuộc khá nhiều vào dòng tiền. Yếu tố tiền rẻ như hiện tại sẽ là động lực hỗ trợ dòng tiền chảy vào chứng khoán. Lãi suất ngân hàng thấp sẽ kích thích dòng tiền đổ vào các kênh sinh lời cao hơn. Với tiềm năng tăng trưởng của thị trường chứng khoán như hiện tại, dòng tiền sẽ đổ vào đầu tư như một kênh sinh lời khả dĩ.

Tổng số tài khoản mở mới 6 tháng đầu năm đến nay lên tới gần 620.000 tài khoản, tăng 58% so với số lượng của cả năm 2020, năm thị trường đã lập kỷ lục lịch sử về số tài khoản cá nhân mới.

Tổng tiền đầu tư của các nhà đầu tư trong nước cũng đã cân hết được lượng tiền rút ra của khối ngoại. Do đó, sự phát triển dài hạn của thị trường chứng khoán Việt Nam trong tương lai sẽ phụ thuộc vào nhà đầu tư trong nước và nội lực trong nước nhiều hơn.

Tóm lược về thị trường chứng khoán những tháng sắp tới, TS. Võ Trí Thành cho rằng có hai đểm quan trọng cần chú ý. Thứ nhất là khả năng chống dịch của Việt Nam và thứ hai là tình hình kinh tế vĩ mô vì trong một năm qua thị trường chứng khoán có vẻ thuận chiều hơn với những biến động của kinh tế vĩ mô chứ không thay đổi liên tục như những năm trước.

Đề cập đến dòng tiền của thị trường chứng khoán, TS.Võ Trí Thành cho rằng có ba câu chuyện cần chú ý là margin, F0 và dòng tiền của các nhà đầu tư nước ngoài. Mặc dù khối ngoài rút ròng khá lớn nhưng lượng tiền F0 đổ vào thị trường chứng khoán cũng lớn. Ông đề nghị các chuyên gia đưa ra nhận định về diễn biên này, đồng thời cảnh báo về nhóm ngành rủi ro.
Bà Nguyễn Hoài Thu, Giám đốc điều hành Khối Đầu tư chứng khoán và trái phiếu – VinaCapital:
Thời gian qua số lượng nhà đầu tư F0 vào thị trường rất nhiều một phần vì dịch bệnh các ngân hàng hạ lãi suất huy động xuống thấp. Khi không có nhiều kênh có thể để đầu tư nguồn tiền nhãn rỗi trong bối cảnh lãi suất thấp thì các nhà đầu tư đổ dồn vào mở tài khoản chứng khoán.
Tuy nhiên, số tài khoản chứng khoán của Việt Nam hiện nay mới chiếm khoảng 3% dân số, trong khi Trung Quốc là 13%. Thị trường Việt Nam đang được so sánh với Đài Loan vào cuối những năm 80 - đầu 90 thì lúc này số tài khoản của Đài Loan đã là khoảng 84%. Do đó, tiềm năng của thị trường chứng khoán của Việt Nam còn rất lớn.
Về các nhà đầu tư F0, họ cũng đã trở nên sành sỏi hơn, đã có nhiều kiến thức hơn. Tuy nhiên, thực tế trong số các nhà đầu tư  cá nhân F0, thậm chí các nhà đầu tư Fn, ta thường không đoán được họ là nhà đầu tư ngắn hạn hay dài hạn, mà nhà đầu tư cá nhân chiếm tới 86-87% lượng giao dịch mỗi ngày với quy mô giao dịch mỗi ngày khoảng 1 tỷ USD, dẫn tới mức độ biến động của thị trường nhiều khả năng sẽ tăng so với trước đây. Trong khi các nhà đầu tư chuyên nghiệp, là các quỹ, chiếm tỷ lệ ít hơn nhưng thường đầu tư dài hạn và có danh mục đầu tư rõ ràng hơn.
Tuy nhiên điều này không có nghĩa là thị trường trở nên rủi ro hơn. Thị trường vẫn có tiềm năng, nhất là trong dài hạn. Khi dịch bệnh qua đi, nền kinh tế hồi phục thị trường chứng khoán cũng sẽ bật lại rất nhanh.
Trong thư gửi nhà đầu tư mới đây tôi cũng đã đề cập đến hai lý do nhà đầu tư nên tiếp tục giữ lại khoản đầu tư của mình.
Một, đợt bùng phát dịch COVID-19 này sẽ được kiếm soát và sớm kết thúc, ngay sau đó, thị trường chứng khoán sẽ phục hồi.
Hai, những nhà đầu tư rút khỏi thị trường vào thời điểm điều chỉnh sâu thường sẽ bỏ lỡ nhịp phục hồi ngay sau đó và cũng sẽ bỏ lỡ khoản lợi nhuận đáng kể.
Với nhà đầu tư cá nhân, F0 chúng tôi khuyến nghị khi mới gia nhập thị trường phải tìm hiểu kỹ, đầu tư chứng khoán rủi ro cao nhưng lợi nhuận cao nên cần tìm hiểu kỹ về nhóm ngành sẽ đầu tư. Với nhà đầu tư muốn đầu tư dài hạn nhưng không biết nên đầu tư nhóm ngành nào thì nên tìm hiểu chọn một công ty quản lý quỹ trên thị trường để dầu tư vào hoặc tìm hiểu về các cổ phiếu mà họ dự định đầu tư vào để đa dạng hóa các cổ phiếu đầu tư. Mỗi quỹ thường đầu tư 20-30 cổ phiếu, tức là đa dạng hơn danh mục cá nhân thông thường. Tất nhiên mức độ sinh lời khác nhau nên nhà đầu tư cần tìm hiểu kỹ. Ví dụ như VinaCapital hiện cũng đang quản lý 2 quỹ chứng khoán. Nếu như thị trường trong 7 tháng đầu năm ghi nhận tăng trưởng khoảng 15% thì các quỹ do VinaCapital quản lý cho mức lợi nhuận 34-39%.
Về dự báo dòng tiền của nhà đầu tư nước ngoài những tháng cuối năm, rất khó dự báo, nhưng nhìn xa hơn một chút thì xu hướng của thị trường là dòng tiền sẽ quay trở lại.
Định giá của thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn đang rất hấp dẫn, lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường vẫn đang tốt hơn nhiều thị trường trong khu vực nên các nhà đầu tư nước ngoài vẫn đang quan tâm.
Ngoài ra, chúng tôi nhận thấy một số nhà đầu tư trong khu vực châu Á, trong đó, có các nhà đầu tư Đài Loan vẫn rất quan tâm đến thị trường Việt Nam. Trong khi nhà đầu tư ngoại rút ròng 1,3 tỷ USD, thì các nhà đầu tư đến từ Đài Loan vẫn đổ tiền vào thị trường Việt Nam, ví dụ quỹ Fubon FTSE Vietnam ETF đã đổ khoảng hơn 540 triệu USD vào thị trường chứng khoán Việt Nam trong đó có 173 triệu USD chỉ trong tháng 7.
Chuyển sang thị trường bất động sản, TS. Võ Trí Thành cho rằng xuyên suốt cuộc khủng hoảng Covid-19 trong năm 2020 đến nay, một thực tế là giá bất động sản tăng lên, đi cùng với các cơn sốt. Ông đề nghị các chuyên gia và lãnh đạo doanh nghiệp đưa ra những nhận định về thị trường bất động sản thời gian qua và dự báo về xu hướng sắp tới.
Ông Nguyễn Xuân Lộc, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc MSH Group (My Second Home):
MSH Group đã thành lập được hơn 6 năm. Trước đây chúng tôi chuyên về phân khúc nghỉ dưỡng, và hiện đã mở rộng quy mô sang cả phát triển bất động sản khu công nghiệp, căn hộ.
Như chúng ta đều biết, 6 tháng đầu 2021 có nhiều biến động, thị trường bất động sản có sự tăng trưởng tương đối mạnh mẽ. Tuy nhiên, hai tuần trở lại đây khi có Chỉ thị 16 thì lượng giao dịch bị ảnh hưởng một chút.
Tôi cho rằng, từ giờ tới cuối năm, việc phòng chống dịch bệnh sẽ ảnh hưởng rất lớn tới giao dịch thị trường vì với ngành bất động sản, việc giao dịch online rất khó, khi khách hàng muốn đến thăm dự án, rồi phải tiến hành các thủ tục… Trong thời gian giãn cách này, khách hàng sẽ tìm hiểu thông tin, chờ dịch bệnh kết thúc.
Theo đó, nếu tháng 8 chúng ta có thể kiểm soát được dịch bệnh thì tôi tin rằng, cuối năm thị trường sẽ giao dịch tốt, nhiều chủ đầu tư đang chờ tung hàng ra, thị trường bất động sản cuối năm có thể có đợt sóng mới.
Còn với chúng tôi, từ khi đợt dịch Covid-19 lần thứ 4 bùng phát trở lại, MSH Group đã xác định ngay từ đầu là không vì khó khăn của dịch bệnh mà làm giảm năng suất làm việc và hiệu quả công việc. MSH Group nhanh chóng tìm kiếm các phương thức tiếp cận khách hàng phù hợp với thời công nghệ 4.0 và triển khai áp dụng tới các dự án mà MSH Group phân phối như công nghệ thực tế ảo VR360, tổ chức các buổi bán hàng livestream để quảng bá và tương tác trực tiếp tới khách hàng có nhu cầu.
Và hiện tại trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn biến hết sức phức tạp, phải thực hiện các biện pháp giãn cách, hạn chế tiếp xúc trực tiếp thì công nghệ số đã chứng minh những ưu điểm trong việc quảng bá sản phẩm, kết nối thông tin, nhu cầu và tăng sự tương tác giữa doanh nghiệp như MSH Group với khách hàng.
Bên cạnh đó, theo báo cáo của Bộ Xây dựng, trong thời gian tới, mặc dù thị trường còn nhiều khó khăn, song lĩnh vực nhà ở và thị trường bất động sản vẫn sẽ ghi nhận nhiều tích cực và chỉ số đáng kể.
Ngoài ra, việc lãi suất hạ thấp trong thời gian qua sẽ hỗ trợ rất nhiều cho thị trường bất động sản cả về hai phía gồm những doanh nghiệp kinh doanh, xây dựng bất động sản lẫn khách hàng. Các doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi khi được vay tiền của ngân hàng với lãi suất thấp, giảm được chi phí vốn và hỗ trợ được tốt trong vấn đề xây dựng công trình bất động sản. Các doanh nghiệp kinh doanh sẽ có cơ hội vay thêm được các khoản vay từ ngân hàng phát triển các sản phẩm phù hợp với thị trường và MSH Group cũng đang có rất nhiều dự án tiềm năng và mang lại nhiều giá trị bền vững cho khách hàng. Trong khi đó, người mua bất động sản cũng có lợi khi được vay tiền với lãi suất thấp hơn để mua nhà.
Theo nhận định của nhiều chuyên gia trong ngành, thị trường bất động sản nửa cuối 2021 dự báo có điểm sáng, do đó MSH Group cũng luôn sẵn sàng định hướng phát triển và hoàn thiện con người, cập nhật về mặt công nghệ để thích ứng với mọi hoàn cảnh sắp tới.
Bà Nguyễn Thị Thanh Hương, Tổng giám đốc Đại Phúc Land:
Chúng tôi có dự án ở thành phố mới Thủ Đức. Trước khi có ảnh hưởng dịch bệnh, đã có một số khó khăn nhất định liên quan đến điểm nghẽn về pháp lý, lệch pha cung cầu.
Khi dịch bệnh ập tới, khó khăn nhân đôi. Năm 2020 chúng ta kiểm soát dịch bệnh tốt nên thị trường có sức bật nhất định. Năm 2020 cũng có một số đợt điều chỉnh giá, sang đầu năm 2021 có đợt dịch ngắn nhưng kiểm soát tốt nên chúng ta đã chứng kiến một đợt sốt đất nền hồi tháng 3, tháng 4.
Tuy nhiên, đến đợt dịch thứ 2 này, dịch bệnh trở nên nghiêm trọng và kéo dài hơn dự kiến. Trong Nam, tình hình dịch đang nóng, là yếu tố bất khả kháng tác động, buộc tất cả các doanh nghiệp bất động sản gần như dừng hoạt động.
Dịch bệnh nhiều khả năng vẫn sẽ kéo dài, và nhiều khả năng đến quý 4 doanh nghiệp mới được hoạt động trở lại. Thị trường bất động sản theo đó sẽ có cơ hội phục hồi. Hiện chúng tôi đang trong tâm thế cố gắng duy trì bộ máy hoạt động và chuẩn bị cho quý 4 tới khi dịch bệnh được kiểm soát.
Trong ngành bất động sản có một số nhóm doanh nghiệp lớn bao gồm các doanh nghiệp chủ đầu tư, là các doanh nghiệp có nguồn lực đầu tư lớn, có các nguồn vay đảm bảo triển khai các hoạt động đầu tư dài hạn. Khi dịch bệnh tới sẽ tạo ra áp lực lớn cho các doanh nghiệp này. Nhóm 2 là các doanh nghiệp môi giới, chiếm 60-70%, là doanh nghiệp vừa và nhỏ, hoạt động dựa trên sản phẩm của chủ đầu tư, họ có thể gồng được một thời gian ngắn nhưng dài hạn là khó khăn.
Do đó, hiện các doanh nghiệp đang rất cần sự trợ lực từ phía các cơ quan Chính phủ, việc đưa ra các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay là vô cùng cấp thiết.
TS. Võ Trí Thành:
Với thị trường bất động sản, chị Hương vừa rồi có chia ra nguồn cung các doanh nghiệp, công ty môi giới, công ty dịch vụ hỗ trợ cho chủ đầu tư bất động sản. Nếu như khống chế dịch tốt trong tháng 8 tháng 9 mọi chuyện cũng không đơn giản. Chị có ý kiến gì về cách thức hỗ trợ của nhà nước với thị trường bất động sản, nếu nhìn nhận từ góc độ của chủ đầu tư, doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, có điểm lưu ý gì mà chị muốn gửi gắm đến nhà nước để có cách thức hỗ trợ tốt hơn?
Bà Nguyễn Thị Thanh Hương, Tổng giám đốc Đại Phúc Land:
Hầu như đến thời điểm này, các doanh nghiệp bất động sản TP.HCM đã phải đóng cửa văn phòng, doanh nghiệp ở tất cả các nhóm đều khó khăn. Các chủ đầu tư thường có kế hoạch hoạch định dài hơi nên cũng có nguồn lực dự phòng cho đầu tư phát triển dự án, nhưng đấy là với điều kiện bình thường vẫn có nguồn thu, hiện tại không có nguồn thu mà dùng nguồn lực dự phòng để đầu tư. Còn với các doanh nghiệp môi giới, họ hiện cũng đang không có nguồn thu và họ đang phải gồng gánh tất cả chi phí để giữ được nhân sự. Khi thị trường khó khăn, đối tượng này sẽ rút lui và rời khỏi thị trường tương đối nhiều.
Vào quý 4/2021, nếu lực lượng này không hoạt động được, bởi các đơn vị vừa rồi đã quá khó khăn, mọi chuyện sẽ càng tệ hơn nữa.
Các gói hỗ trợ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, đa số các chủ đầu tư dùng vốn vay rất nhiều để phát triển dự án, gánh nặng lãi suất ngân hàng rất lớn. Các ngân hàng cần xem xét giảm lãi suất, khoanh nợ và giảm để chủ đầu tư có thêm nguồn lực phát triển dự án nhằm đưa ra sản phẩm vào quý 4 năm nay.
Còn với những doanh nghiệp môi giới, để có thể duy trì được hoạt động, họ cần chi trả chi phí mặt bằng, nhân viên, họ cũng rất cần đến vốn vay để trả lương. Tôi cũng không hiểu tại sao trong năm 2020, việc những doanh nghiệp tiếp thu được vốn vay để trả lương rất thấp, không hiểu do vấn đề nguồn lực hay gì. Gói cho vay ưu đãi này cũng cần xem xét.
Thị trường bất động sản vốn đã tồn đọng nhiều vấn đề khó khăn. Về mặt pháp lý, VCCI cũng đưa ra nhiều văn bản tháo gỡ. Vào năm 2021, cũng đã có một số điểm sáng về pháp lý, chúng tôi có thêm sự tin tưởng và chờ đợi vào sự thực thi của những thay đổi mới này, chúng ta có thể tiết kiệm được nhiều nguồn lực thời gian. Về sửa đổi luật đất đai, cũng cần phải được xem xét để thực thi tốt hơn.
Với cương vị doanh nghiệp bất động sản, nhiều khi chúng tôi nhìn thấy cơ hội kinh doanh mà không dám hành động vì thủ tục pháp lý có nhiều vấn đề. Như vậy ngoài gói tín dụng cần phải khơi thông về pháp lý để thị trường bất động sản có thêm nguồn lực hồi phục mạnh mẽ hơn vào quý 4 năm nay cũng như năm 2022.
TS. Võ Trí Thành:
Theo tôi, cái quan trọng nhất giờ là tốc độ thực thi các chính sách hỗ trợ dễ tiếp cận hơn về lương và các chính sách với người lao động.
Vừa qua các chương trình làm việc của Quốc hội, tôi được biết rất nhiều khuôn khổ pháp lý sẽ được đẩy nhanh để sửa đổi. Bên cạnh đó, trong bối cảnh hiện nay quốc hội cũng đang trao quyền cho Chính phủ.
Với những điều này, không chỉ doanh nghiệp bất động sản mà doanh nghiệp nói chung sẽ có khả năng tiếp cận hỗ trợ của Chính phủ, ngân hàng tốt hơn.
Tôi muốn hỏi ông Nguyễn Xuân Lộc, về lĩnh vực bất động sản khu công nghiệp hiện đang là điểm sáng trên thị trường bất động sản. Ông có kiến nghị gì với phân khúc này?
Ông Nguyễn Xuân Lộc, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc MSH Group:
Về lĩnh vực bất động sản công nghiệp, MSH Group đang làm đô thị đi liền với các khu công nghiệp. Trong thời gian trước, lĩnh vực này được hưởng lợi từ làn sóng chuyển dịch công nghiệp sang Việt Nam nhưng thời gian gần đây đang bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 khiến cho sự phát triển của khu đô thị gắn liền với khu công nghiệp ngưng trệ, lượng giao dịch sụt giảm, có địa phương giảm tới 40%.
Theo MSG Goup, một trong những phân khúc tiềm năng mà hiện đang gặp nhiều khó khăn chính là bất động sản khu công nghiệp. Rất mong Nhà nước hỗ trợ để các khu công nghiệp khống chế được dịch Covid-19. Chỉ khi các khu công nghiệp phát triển thì đô thị đi liền mới phát triển.
TS. Võ Trí Thành:
Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang gấp rút chỉnh sửa Nghị định về khu công nghiệp, nhìn trong chính sách đối với khu công nghiệp. Chỉnh sửa lần này sẽ khá toàn diện, nhất là về vai trò của các chủ đầu tư, về quy hoạch tại các địa phương và khu công nghiệp gắn liền với khu đô cũng như liên quan đến phân cấp giữa trung ương, địa phương.
Nếu mà Nghị định này được thông qua sẽ là điểm sáng thu hút đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài có chất lượng.

Trở lại với thị trường chứng khoán, Tọa đàm tương tác với một số câu hỏi của bạn đọc về diễn biến hiện nay, những khuyến nghị của chuyên gia đối với nhà đầu tư mới tham gia thị trường (F0).
Theo bà Nguyễn Thị Phương Lam – Giám đốc Phân tích VDSC, triển vọng của Thị trường chứng khoán Việt Nam trong dài hạn còn rất hấp dẫn khi chúng ta có tỷ trọng lớn nhất trong các thị trường Emerging Market thuộc rổ FTSE.
Trong giai đoạn vừa qua, sau khi dịch bùng phát, nhà đầu tư F0 trong nước trở thành tâm điểm và hầu như đã cân bằng hết áp lực bán ròng từ khối ngoại cũng như áp lực giải chấp margin thị trường. Thông thường, thị trường thường phản ứng tiêu cực với các yếu tố trên tuy nhiên hiện nay sự tham gia mạnh mẽ của nhà đầu tư F0 đã cân bằng lại ảnh hưởng này.
Nhìn lại quá khứ, VN-Index đã tăng hơn gấp đôi so với đáy tháng 3/2020 và tương lai tăng trưởng kinh tế năm 2021 đang gặp nhiều thách thức hơn so với dự báo. Do đó, với bối cảnh thị trường đã tăng mạnh trong thời gian dài, nếu nhà đầu tư F0 tham gia với tâm lý đánh nhanh thắng nhanh thì khó gặt hái được thành quả. Thay vào đó, VDSC cho rằng nhà đầu tư nên xem chứng khoán là kênh phân bổ tài sản dài hạn.
Đối với mỗi cơ hội, nhà đầu tư nên hiểu rõ lựa chọn trước khi xuống tiền. Nhà đầu tư cần hiểu biết về ngành nghề và triển vọng doanh nghiệp. Nhà đầu tư có 2 lựa chọn: Thứ nhất là tham khảo các bộ phận nghiên cứu, phân tích của công ty chứng khoán. Thứ hai là tham gia đầu tư cùng các quỹ đầu tư có bộ phận phân tích chuyên nghiệp để sàng lọc trong danh mục hơn một nghìn cổ phiếu hiện tại.
Bổ sung thêm về vấn đề này, ông Ngô Đăng Khoa cho biết, việc kiểm soát tình hình dịch bệnh càng sớm càng tốt sẽ giúp nhà đầu tư nước ngoài có nhận định chính xác hơn về thị trường Việt Nam. HSBC vẫn thường xuyên giới thiệu thị trường Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài qua đó thu hút dòng vốn trực tiếp và gián tiếp đổ vào thị trường.
TS. Võ Trí Thành:
Còn về hoạt động sản xuất kinh doanh, theo ông Chánh Trung, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Tân Long, cơ hội của doanh nghiệp từ nay đến cuối năm trong các kịch bản khác nhau về kiểm soát dịch bệnh và tăng trưởng như thế nào?
  Ông Nguyễn Chánh Trung, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Tân Long
Ông Nguyễn Chánh Trung, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Tân Long:
Qua 6 tháng đầu năm, dịch bệnh vẫn đang diễn biến phức tạp ở khu vực phía Nam. Hoạt động doanh nghiệp gắn liền với logistics, chúng tôi cho rằng thị trường nội địa sẽ bị ảnh hưởng nhất định, nhập khẩu nông sản khó có sự tăng trưởng. Tuy nhiên, do hoạt động trong ngành hành nguyên liệu nên cũng tự tin đạt được sản lượng như năm 2020.
Với lĩnh vực xuất khẩu, nhiều doanh nghiệp trong ngành sản xuất lúa gạo 6 tháng đầu năm vẫn hoạt động khá ổn, giá đầu vào khá cao nhưng nhu cầu trong nước ổn. Nhìn ra xuất khẩu, đối với lúa gạo, chúng ta có kinh nghiệm nhiều năm rồi, 6 tháng cuối năm tôi cho rằng triển vọng xuất khẩu lúa gạo vẫn tốt. Các bạn hàng ở Philippines, Malaysia vẫn đang nhập khẩu, dù dịch bệnh ở các quốc gia này vẫn đang rất phức tạp.
Gạo Việt Nam tuy được yêu thích, nhưng gặp cạnh tranh với gạo Ấn Độ lớn vì gạo họ rẻ. Dù vậy, dịch bệnh ở Ấn Độ vẫn đang rất “nóng”. Cu Ba cũng có nhu cầu nhập khẩu gạo ổn định từ nước ta, họ cũng đang chuyển dịch sang nhập khẩu gạo theo con đường thương mại. Tôi cho rằng, thị trường xuất khẩu gạo năm nay có thể đạt mục tiêu xuất khẩu trên 6 triệu tấn.
Dù vậy, hiện  đang là mùa thu hoạch ở miền Tây, nhưng do đang áp dụng Chỉ thị 16, nên việc thu hoạch, vận chuyển hàng hóa đang gặp rất nhiều khó khăn. Nhiều nhà máy áp dụng 3 tại chỗ nhưng việc này cũng có rất nhiều rủi ro, không biết có thể kéo dài trong bao lâu.
Về bán lẻ và thực phẩm tiêu dùng, tôi cho rằng có nhiều cơ hội, mặc dù các tỉnh đang áp dụng Chỉ thị 16, Chỉ thị 16+, các doanh nghiệp đã thích nghi và tổ chức bộ máy hợp lý hơn.
TS. Võ Trí Thành:
Một số lĩnh vực dịch vụ đang bị tác động rất tiêu cực vì dịch bệnh như hàng không hay du lịch. Những ngành này đang hy vọng sau khi hết dịch sẽ bật tăng rất mạnh, vậy Chính phủ nên có hỗ trợ gì cho khối này?
Ông Đậu Anh Tuấn:
Tôi có góc nhìn tương đối lạc quan về triển vọng chung và dài hạn của Việt Nam trong thời gian tới.
Việt Nam có thể đang trở nên hấp dẫn hơn trong do xu hướng dịch bệnh trên toàn cầu. Bởi lẽ, dịch bệnh đã khiến các doanh nghiệp nhận ra rằng không nên tập trung vào một quốc gia, ngành hàng hay một địa điểm vì khi dịch bệnh sẽ khiến hoạt động sản xuất kinh doanh bị tê liệt.
Vì vậy, trong thời gian tới chắc chắn sẽ xuất hiện xu hướng chuyển dịch từ quốc gia này sang quốc gia khác. Trong đó, Việt Nam là một điểm đến hấp dẫn và đã sẵn sàng khi ký hàng loạt FTA trong thời gian vừa qua.
Bên cạnh đó, dịch bệnh cũng thúc đẩy quá trình chuyển đổi số của Việt Nam. Trong thời gian vừa qua, Việt Nam đã ứng dụng công nghệ thông tin và đã đi bước rất dài trong chuyển đổi số. Cộng đồng doanh nghiệp của Việt Nam cũng có đặc điểm là nhiều doanh nghiệp nhỏ và trẻ nên sẽ áp dụng chuyển đổi số nhanh hơn. Hy vọng với việc áp dụng chuyển đổi số trong thời gian tới các doanh nghiệp Việt Nam sẽ bắt kịp thế giới.
Thứ ba, bối cảnh dịch bệnh khiến doanh nghiệp Việt Nam có cách nhìn khác trong việc quản trị. Dịch Covid-19 sẽ tạo động lực cho doanh nghiệp tăng cường quản trị trong thời gian tới. Trong giai đoạn tiếp theo, có thể xuất hiện những rủi ro khác như thiên tai hay biến đổi khí hậu thì việc tăng cường quản trị sẽ giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn.
Như anh Chính Trung vừa chia sẻ về việc quản lý bán lẻ trong thời kỳ dịch bệnh. Anh cho rằng đó là may mắn còn chúng tôi lại cho rằng năng lực quản trị của doanh nghiệp đã tăng lên sau khi dịch Covid-19 bùng phát.
Về những giải pháp hỗ trợ cho doanh nghiệp nói chung cũng như doanh nghiệp hàng không, dịch vụ trong thời gian tới, tôi cho rằng Chính phủ cần có thêm những giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp.
Về mặt chính sách, nội dung cuộc họp ngày hôm qua với Văn phòng Chính phủ là việc sửa 1 Luật để sửa 6 luật với 6 lĩnh vực khác nhau. Điều này cho thấy, trước yêu cầu thực tiễn, Chính phủ đang có những giải pháp mạnh mẽ để đẩy nhanh quá trình cải cách hỗ trợ doanh nghiệp.
Với lĩnh vực chịu nhiều thiệt hại như hàng không, du lịch, tất cả đều rất khó khăn từ doanh nghiệp nhà nước như VietnamAirlines đến các doanh nghiệp hàng không tư nhân. Các gói hỗ trợ mà Chính phủ đưa ra trước đó “nhắm” vào việc dịch bệnh sẽ ổn định trong quý 2/2021 và doanh nghiệp sẽ bắt đầu hoạt động ổn định từ quý 3, quý 4 mà chưa tính tới làn sóng bùng phát Covid-19 lần thứ 4. Vì vậy, các gói hỗ trợ này chưa đủ liều, hy vọng trong thời gian tới sẽ có thêm các gói hỗ trợ tăng cường.
Dịch bệnh gây khó khăn chưa từng có vì vậy những gói hỗ trợ cũng phải lớn chưa từng có.
Hiện tại, giải pháp trung và dài hạn đã có nhưng các doanh nghiệp có sống sót được để tiếp cận các giải pháp đó hay không lại là vấn đề cần bàn đến.
Các vấn đề như “hộ chiếu vaccine” cần được thúc đẩy để hỗ trợ doanh nghiệp.
Đáng mừng là, sau gói 62.000 tỷ và gói 16.000 tỷ thì gói 26.000 tỷ mà Chính phủ vừa đưa ra có cách thức tiếp cận dễ dàng hơn, hiệu quả hơn.
Trong bối cảnh dịch bệnh, bộ máy hành chính không thể hoạt động trơn tru như điều kiện thông thường nhưng mong rằng những trục trặc, khó khăn sẽ chỉ diễn ra trong khoảng thời gian ngắn nhất.
Năm tháng cuối năm hy vọng dịch bệnh ổn định, số doanh nghiệp rời khỏi thị trường sẽ tăng nhưng không quá khốc liệt.
Những ứng xử của Chính phủ, địa phương trong thời gian tới đối với doanh nghiệp hy vọng sẽ như “những liều vaccine” bởi các doanh nghiệp cũng đang rất cần những liều vaccine kịp thời.
Chiến lược tiêm chủng vaccine trong thời gian tới nhanh hay chậm, bình đẳng hay không cũng là những vấn đề cần lưu ý trong thời gian tới. Các doanh nghiệp tư nhân có vẻ hơi “chạnh lòng” so với doanh nghiệp nhà nước trong việc tiếp cận vaccine. Đẩy nhanh việc tiêm chủng vaccine cũng như đảm bảo công bằng trong tiếp cận là những giải pháp quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong những tháng cuối năm.
TS. Võ Trí Thành:
Như thảo luận ở trên, Chính phủ cần phải giúp doanh nghiệp cải cách bắt nhịp xu thế mới. Có thể lấy ví dụ lĩnh vực du lịch hàng không, bên cạnh việc giúp tháo gỡ khó khăn, hoãn giãn nợ thì cái quan trọng là chiến lược đi cùng. Ví như khi phục hồi, bài học của rất nhiều nước là tìm kiếm lại người lao động rất khó.
Các anh chị muốn nói gì với doanh nghiệp và với Chính phủ?
Ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế - Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI):
Đối với Chính phủ, cần nhất trong thời gian tới là chính sách hỗ trợ cụ thể. Ví dụ đang nói những gói lớn, doanh nghiệp hiện đang đương đầu với cả rừng chi phí. Doanh nghiệp vừa vận hành kinh doanh, lo bao nhiêu chi phí, giá như mà nhà nước hỗ trợ một phần chi phí chống dịch, như vậy chính sách sẽ đến ngay được với doanh nghiệp. Những chương trình hỗ trợ này rất có ý nghĩa, chính sách cần phải thuận tiện và đi vào cuộc sống tốt hơn nữa.
Đối với doanh nghiệp, giai đoạn này vô cùng khó khăn, căng thẳng, nhưng mong là doanh nghiệp sẽ cố gắng vững vàng.
Ông Lý Hoài Văn, Phó Tổng giám đốc OCB:
Tôi mong mọi người giữ sức khỏe là chính, còn người còn sức khỏe chúng ta sẽ làm được rất nhiều việc. Mong các anh chị ở đây và toàn thể mọi người đảm bảo sức khỏe và chúng ta sẽ có những cơ hội thành công.
Hiện nay, ngân hàng chúng tôi đang có quan điểm thận trọng. Trong bối cảnh này, chúng ta sẽ bình tĩnh và giải quyết được những rủi ro trong thời gian sắp tới. Trong tình hình khó khăn như hiện nay, sẽ vẫn có những cơ hội, nền kinh tế vĩ mô Việt Nam dù xấu đi nhưng vẫn ở trạng thái ổn định so với  nhiều quốc gia khác trong khu vực. Sự phục hồi của các nước đang phát triển cũng mang đến cơ hội cho Việt Nam.
Ông Nguyễn Chính Trung, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Tân Long:
Nếu như phải nói với Chính phủ, tôi mong rằng chính sách hỗ trợ của Chính phủ dành cho doanh nghiệp cần phải cụ thể hơn về chi phí. Doanh nghiệp đang phải duy trì hệ thống, trước tiên cần chú ý đến chính sách lãi suất về thuế dành cho doanh nghiệp, ví dụ như thuế nhập khẩu thời gian tới. Với ngành của chúng tôi, thuế nhập khẩu giảm từ 5% xuống 3% đã giảm xuống rất lớn.
Qua đợt dịch, chúng ta cũng nhìn thấy rằng có cơ hội để chuyển đổi mô hình kinh doanh, đánh giá lại mô hình rủi ro, thị trường tiêu dùng khách hàng trong nội bộ chúng ta. Chúng ta tập trung vào lợi ích khách hàng. Tài sản quan trọng nhất của chúng ta bây giờ là con người và có con người tốt chúng ta sẽ có cơ hội tốt hơn.
Bà Nguyễn Hoài Thu, Giám đốc điều hành Khối Đầu tư chứng khoán và trái phiếu – VinaCapital:
Thị trường chứng khoán sẽ hồi phục khi kinh tế phục hồi mà điều này chỉ có thể có được khi chúng ta đẩy mạnh được vắc xin Covid-19 cho toàn dân, vắc xin được càng nhiều càng tốt, mọi chuyện mới tốt hơn được.
Về phía các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, cần nhấn mạnh rằng thị trường có tiềm năng. Giờ chúng ta còn đang tranh cãi chỉ số sẽ lên 1.300 hay 1.400 nhưng biết đâu vài năm nữa lên 3.000 nên chúng ta có tiền nhàn rỗi hãy cân nhắc về đầu tư chứng khoán.
Bà Nguyễn Thị Phương Lam, Giám đốc Phân tích - Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC):
Từ góc độ bộ phận phân tích, chúng tôi đánh giá sự phát triển bền vững của thị trường phụ thuộc vào niềm tin của nhà đầu tư, quyết tâm từ Chính phủ, cam kết thực hiện của doanh nghiệp. Chúng tôi kỳ vọng và đặt niềm tin vào định hướng và chiến lược hiện tại mà Chính phủ đang thực hiện.
Ông Nguyễn Xuân Lộc, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc MSH Group:
Chúng tôi luôn mong và tin tưởng Việt Nam sẽ vẫn là điểm sáng của du lịch và đầu tư trong khu vực và trên thế giới.
TS. Võ Trí Thành:
Để kết thúc buổi tọa đàm hôm nay, tôi xin trích ở đây câu hỏi của Bác Hồ: “Còn non còn nước còn người”. Cố gắng vững vàng thắng dịch Covid-19 chúng ta sẽ xây đựng đất nước này đàng hoàng thêm 10 lần. Chúc cho các doanh nhân, doanh nghiệp vững vàng vượt khó, bắt nhịp xu thế cải cách của thế giới.

BIZLIVE

Bắc Bộ tiếp tục có mưa lớn, trời mát mẻ

Bắc Bộ tiếp tục có mưa lớn, trời mát mẻ

Do ảnh hưởng của rìa Tây lưỡi áp cao cận nhiệt đới kết hợp với nhiễu động trong đới gió Đông trên cao nên ngày 27/9, ở Bắc Bộ có mưa vừa, mưa to với tổng lượng mưa...
Xem bản Desktop