Vĩ mô

Quá thấp so với nhiều nước, Việt Nam có thể tăng chi hỗ trợ người dân và doanh nghiệp?

Hoàng Hà
BizLIVE - Các giải pháp chính sách tài khóa hỗ trợ của Việt Nam mới chỉ chiếm khoảng 1,4% GDP, thấp hơn nhiều các quốc gia mới nổi (trung bình 4%) và các quốc gia thu nhập thấp (trung bình 1,6%).
Quá thấp so với nhiều nước, Việt Nam có thể tăng chi hỗ trợ người dân và doanh nghiệp?
PGS. TS. Vũ Sỹ Cường - Phó trưởng Bộ môn Phân tích chính sách tài chính - Học Viện Tài chính
Đó là so sánh mà PGS. TS. Vũ Sỹ Cường - Phó trưởng Bộ môn Phân tích chính sách tài chính - Học Viện Tài chính nêu ra tại tọa đàm về kinh tế - xã hội do Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ chủ trì sáng nay (27/9).
"Trong bối cảnh bất thường, cần có những giải pháp nhanh chóng, kể cả vượt ngoài khuôn khổ thông thường. Việc chủ động nâng mức bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2020 nhằm đối phó khủng hoảng là cần thiết để tạo ra nguồn lực cho việc thực thi chính sách", PGS. TS. Vũ Sỹ Cường nêu quan điểm. 
Nhìn nhận về những chính sách hỗ trợ của Chính phủ trong bối cảnh diễn biến phức tạp của dịch COVID-19, ông Vũ Sỹ Cường cho rằng, các gói hỗ trợ tài chính đã kịp thời tháo gỡ khó khăn, giảm căng thẳng cân đối luồng tiền, chi phí và áp lực tài chính ngắn hạn cho doanh nghiệp, hộ sản xuất, kinh doanh.
Hệ quả của việc thực hiện các chính sách miễn, hoãn, giãn, giảm thuế cùng với những khó khăn của kinh tế chung, năm 2020 lần đầu tiên sau nhiều năm ngân sách thu không đạt được dự toán ở một số nhóm thu lớn, như: thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước đạt 82,6%, thu từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 90%, thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 91%. Kết quả này có thể coi là chấp nhận được trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế giảm mạnh vì dịch bệnh. 
Với sự gia tăng về dịch bệnh ở nhiều địa phương những tháng gần đây, ông Cường cho rằng ngân sách năm 2021 theo ước tính sẽ còn khó khăn hơn nhiều so với năm 2020. 
"Do tác động của dịch bệnh COVID-19, thiên tai, việc triển khai các chính sách tài khóa hỗ trợ nền kinh tế, nên ngay cả khi số bội chi NSNN được giữ nguyên theo dự toán (343.670 tỷ đồng) thì do GDP giảm, bội chi NSNN năm 2021 sẽ là khoảng 4,7% GDP", ông Cường tính toán.
Chính sách tài khóa hỗ trợ của Việt Nam còn rất hạn chế
Đánh giá về điều hành chính sách tài khóa năm 2020-2021, PGS. TS. Vũ Sỹ Cường cho rằng có thể rút ra một số bài học.
Thứ nhất, việc kịp thời điều chỉnh chính sách trước bối cảnh dịch bệnh là giải pháp quan trọng, thiết thực giúp các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân vượt qua khó khăn của đại dịch COVID-19. 
Thứ hai, trong bối cảnh khó khăn càng cần tăng cường kiểm tra, giám sát trong quản lý thu thuế, chống thất thu thuế; tập trung xử lý các khoản nợ đọng thuế; triển khai các biện pháp cưỡng chế nợ thuế để thu hồi nợ đọng và hạn chế phát sinh số nợ thuế mới cần đặc biệt được quan tâm.
NSNN đã có những thời điểm gặp khó khăn khi bố trí nguồn chi cho công tác chống dịch bệnh.
Thứ ba, cần lập dự toán NSNN theo nguyên tắc thận trọng phù hợp với những thay đổi dự kiến của tình hình kinh tế, nhất là biến động về tăng trưởng GDP, ngoại thương và giá cả.
"Việc lập dự toán ngân sách 2020 dựa trên nền thực hiện quá cao của năm 2019 cũng dẫn đến những khó khăn nhất định khi thực hiện. Cần theo đuổi nguyên tắc lường thu mà chi trong lập dự toán.
Ngay cả khi NSNN 2021 đã được lập thận trọng hơn song do cách lập dự toán vẫn theo cách thức truyền thống và do sự phân cấp mạnh mẽ về chi NSNN giữa trung ương và địa phương nên NSNN đã có những thời điểm gặp khó khăn khi bố trí nguồn chi cho công tác chống dịch bệnh", ông Cường đánh giá. 
Thứ tư, ông Cường đề xuất trong bối cảnh bất thường, cần có những giải pháp nhanh chóng, kể cả vượt ngoài khuôn khổ thông thường. Việc chủ động nâng mức bội chi ngân sách năm 2020 nhằm đối phó khủng hoảng là cần thiết để tạo ra nguồn lực cho việc thực thi chính sách.
Song, theo chuyên gia này, các giải pháp chính sách tài khóa hỗ trợ của Việt Nam vẫn còn rất hạn chế so với nhiều quốc gia.
Ông Cường dẫn tính toán của TS. Đinh Trường Hinh (nguyên là chuyên gia kinh tế chính, Văn phòng Phó chủ tịch và Chuyên gia kinh tế trưởng, Ngân hàng Thế giới - PV) cho thấy, số chi này mới chỉ chiếm khoảng 1,4% GDP thấp hơn nhiều các quốc gia mới nổi (trung bình 4%) và các quốc gia thu nhập thấp (trung bình 1,6%). 
Chính sách tài khóa của Việt nam đối phó COVID-19 - Nguồn: Nghiên cứu của TS. Đinh Trường Hinh (số liệu tính toán đến tháng 11/2020)
Thứ năm, cần tiếp tục thực hiện các biện pháp chủ động, quyết liệt và tích cực trong việc tiết kiệm chi tiêu từ NSNN, phối hợp các bộ, ngành và địa phương trong lập và chấp hành dự toán chi đầu tư. Việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho quản lý và phân bổ chi đầu tư công cần tiếp tục được thực hiện để phù hợp hơn với điều kiện thực thi chính sách ở Việt Nam.
Có thể tăng chi hỗ trợ đến 3% GDP mà không gây ảnh hưởng kinh tế vĩ mô
 
Trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 có những thay đổi khó lường và nhiều quốc gia lựa chọn giải pháp sống chung với dịch bệnh, ông Vũ Sỹ Cường cho rằng việc xây dựng chính sách tài khóa năm 2021 phải quan tâm đến 6 vấn đề.
Trước tiên là rủi ro của các yếu tố bên ngoài có thể tác động xấu đến tăng trưởng làm giảm nguồn thu NSNN và tăng chi NSNN.
Ông Cường dẫn chứng, OECD và IMF đều dự báo kinh tế toàn cầu tăng trưởng toàn cầu là chỉ tăng trưởng từ 4-5% cho năm 2022; IMF ước tính đại dịch đã làm giảm thu nhập bình quân đầu người ở các nền kinh tế phát triển 2,8% mỗi năm...
Trên cơ sở đó, ông Cường nhìn nhận sự xuất hiện dịch viêm phổi cấp chắc chắn sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến tăng trưởng kinh tế và hoạt động thu – chi NSNN của Việt Nam. Vì vậy, chính sách tài khóa 2021-2025 sẽ cần phải điều chỉnh lại các nội dung cả thu và chi cho phù hợp với tình hình mới.
Thoái vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ quyền chi phối trong bối cảnh thị trường chứng khoán thuận lợi là một hướng giải quyết vấn đề huy động ngân sách.
Cùng với đó, ông Cường cho rằng, dự toán thu và chi NSNN cần tiếp tục duy trì sự thận trọng hơn và theo nguyên tắc lường thu mà chi, cần có giải pháp chính sách để theo dõi và đánh giá về công tác lập dự toán và chấp hành NSNN ở tất cả các cấp. 
Dự đoán bối cảnh kinh tế xã hội giai đoạn 2021-2025 có những thay đổi rất lớn do tác động của COVID-19, ông Cường đề xuất kế hoạch tài chính 5 năm và kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước (NSNN) 3 năm cần có những thay đổi để phù hợp với tình hình mới. 
"Việc tiếp tục lập ngân sách theo mô hình đầu vào đã bộc lộ những hạn chế rất lớn khi đối phó với dịch bệnh; vì vậy, cần nhanh chóng triển khai áp dụng việc lập kế hoạch ngân sách theo đầu ra, đặc biệt với ngành y tế", ông Cường nhìn nhận.
Ngoài ra, theo chuyên gia này, dịch bệnh COVID-19 cũng đã có những tác động rất lớn đến cơ cấu kinh tế và lao động không chỉ năm 2021 mà cho cả giai đoạn 2021-2025. Hàng loạt vấn đề về đào tạo lại lao động, đảm bảo môi trường an toàn cho lao động di cư (nhà ở, trường học, bệnh viện) đặt ra những yêu cầu mới trong lập kế hoạch tài chính, đầu tư trung hạn. 
Đặc biệt, vị chuyên gia này cho rằng, cần xem xét mở rộng các gói hỗ trợ chính sách tài khóa.
"Ngân hàng Thế giới dự báo, COVID-19 sẽ làm tăng tỷ lệ nghèo đói ở các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Vì vậy, chính sách tài khóa dành cho xóa đói giảm nghèo và phục hồi sau COVID-19 cũng cần phải được chú ý đặc biệt", ông lưu ý. 
Bên cạnh đó, ảnh hưởng của COVID-19 cũng đặt ra hàng loạt vấn đề liên quan đến an sinh xã hội của người dân và rủi ro phá sản của doanh nghiệp. Vì vậy, ông Cường cho rằng để thực hiện tái cơ cấu kinh tế cho giai đoạn 2021-2025, Việt Nam cần xem xét các gói chính sách tài khóa để hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phục hồi sau dịch.
"Để khuyến khích doanh nghiệp trong một số lĩnh vực tiếp tục bỏ tiền đầu tư và phục hồi sản xuất năm 2021-2022 có thể nghiên cứu chính sách cho phép chuyển lỗ về trước hoặc chính sách cấp bù chi phí (doanh nghiệp bỏ chi phí thì nhà nước sẽ hỗ trợ tăng thêm bằng giảm trừ thuế TNDN phải nộp)", ông đề xuất.
Ông Cường dẫn số liệu nghiên cứu gần đây của TS. Đinh Trường Hinh cho IMF về chính sách tài khóa hỗ trợ sau COVID-19 của Việt Nam cho rằng chính sách tài khóa hỗ trợ của Việt Nam còn quá ít và quá thận trọng. Nghiên cứu này cho rằng, Việt Nam có thể tăng chi hỗ trợ từ 0,2% lên đến 3 % GDP (tương đương 260 nghìn tỷ đồng) mà không gây ảnh hưởng đến kinh tế vĩ mô.
Một vấn đề nữa được ông Cường đề xuất là cần điều chỉnh quy mô và cơ cấu chi cho y tế trong NSNN. Theo đó, ông cho rằng, cần bố trí đủ nguồn lực cho mua vaccine không chỉ năm 2021 mà cả giai đoạn 2021-2025; đồng thời, tăng chi phí cho điều trị bệnh nhân COVID-19. Điều này cũng đặt ra những vấn đề cho chính sách tự chủ tài chính ở các bệnh viện công hiện nay.
Cuối cùng là vấn đề huy động nguồn ngân sách, ông Cường nêu giải pháp là xem xét đẩy nhanh việc thoái vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ quyền chi phối (nhất là trong bối cảnh thị trường chứng khoán đang có nhiều thuận lợi như giai đoạn vừa qua).
Đồng thời, nên xem xét điều chỉnh tỷ lệ bội chi cao hơn cho năm 2022 và tận dụng cơ hội lãi suất thấp để vay và tái cơ cấu lại nợ công. Chấp nhận bội chi cao và vay nợ nhiều hơn trong ngắn hạn để có không gian tài khóa tốt hơn cho các nhiệm vụ vừa chống dịch vừa phục hồi kinh tế, xã hội.
Trong trung hạn từ 2022-2025 khi kinh tế trong nước và quốc tế hồi phục, lãi suất huy động có thể tăng trở lại khi nhu cầu vốn cho nền kinh tế tăng lên để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh phục hồi sau dịch bệnh.  
Ngoài ra, trong trung và dài hạn chính sách tài khóa cần xem xét lại phân cấp chi giữa trung ương và địa phương bởi thực tế, Việt Nam là quốc gia có mức độ phân cấp rất lớn trong chi tiêu ngân sách. 

HOÀNG HÀ

Xem bản Desktop