May đo, cắt tóc, gội đầu... đóng thuế 7%: Tổng cục Thuế nói gì?

May đo, cắt tóc, gội đầu... đóng thuế 7%: Tổng cục Thuế nói gì?

Tuấn Việt
BizLIVE - Theo Tổng cục Thuế, việc áp mức thuế GTGT 5% và thuế TNCN 2% đối với hộ và cá nhân kinh doanh các dịch vụ tắm hơi, massage, karaoke, internet, may đo, giặt là, cắt tóc,... không phải là quy định mới và đã được áp dụng ổn định từ năm 2015 đến nay.
Như BizLIVE mới đây đã thông tin, Bộ Tài chính vừa chính thức ban hành Thông tư 40/2021/TT-BTC hướng dẫn thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế thu nhập cá nhân (TNCN) và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.
So với các quy định hiện hành, Thông tư số 40/2021/TT-BTC đã bổ sung thêm nhiều nhóm đối tượng gồm:

- Hộ kinh doanh, cá nhân hoạt động thương mại điện tử, bao gồm cả cá nhân có thu nhập từ sản phẩm, dịch vụ nội dung thông tin số;
- Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có hoạt động sản xuất, kinh doanh tại chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế của khẩu trên lãnh thổ Việt Nam;
- Người cho thuê tài sản; Người chuyển nhượng tên miền “.vn”; 
- Tổ chức hợp tác kinh doanh với cá nhân; Tổ chức, cá nhân khai thuế thay, nộp thuế thay cho cá nhân;
-  Doanh nghiệp xổ số, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp bán hàng đa cấp trả thu nhập trực tiếp cho cá nhân ký hợp đồng đại lý bán đúng giá đối với xổ số, bảo hiểm, bán hàng đa cấp.
THUẾ SUẤT 7% VỚI  MAY ĐO, CẮT TÓC, GỘI ĐẦU...: KHÔNG PHẢI QUY ĐỊNH MỚI
Trước sự quan tâm của dư luận đối với các nội dung liên quan đến việc áp dụng mức thuế GTGT 5% và thuế TNCN 2% đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, trong đó có nội dung các dịch vụ tắm hơi, massage, karaoke, vũ trường, bi-a, internet, game, may đo, giặt là, cắt tóc, làm đầu... sẽ phải chịu thuế GTGT 5% và thuế TNCN 2% từ 1/8/2021, Tổng cục Thuế vừa chính thức lên tiếng để làm rõ một số vấn đề.
Theo đó, Tổng cục Thuế cho biết, việc áp mức thuế GTGT 5% và thuế TNCN 2% đối với hộ và cá nhân kinh doanh các dịch vụ tắm hơi, massage, karaoke, internet, may đo, giặt là, cắt tóc,... không phải là quy định mới và đã được áp dụng ổn định từ năm 2015 đến nay.
Cụ thể, việc áp dụng này thực hiện theo quy định tại điểm 2 Phụ lục 01 - Danh mục ngành nghề tính thuế GTGT, thuế TNCN theo tỷ lệ % trên doanh thu đối với cá nhân kinh doanh ban hành kèm theo Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính.
Do đó, các hộ kinh doanh trong lĩnh vực này nếu đã được cơ quan thuế thông báo mức thuế khoán từ đầu năm, nếu trong năm có ngừng, tạm ngừng hoặc bị ảnh hưởng sụt giảm doanh thu do dịch bệnh thì cơ quan thuế sẽ thực hiện điều chỉnh doanh thu và mức thuế khoán theo thực tế.
Ngoài ra, điểm mới là tại Thông tư số 40/2021/TT-BTC, Bộ Tài chính đã có hướng dẫn cụ thể về việc cơ quan thuế có trách nhiệm điều chỉnh doanh thu và mức thuế khoán trong trường hợp hộ khoán ngừng hoặc tạm ngừng kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà không yêu cầu hộ kinh doanh thực hiện nhiều thủ tục hành chính như quy định trước đây tại Thông tư số 92/2015/TT-BTC.

Cụ thể tại điểm b.5 khoản 4 Điều 13 Thông tư số 40/2021/TT-BTC ngày 01/6/2021 của Bộ Tài chính hướng dẫn như sau: “Hộ khoán ngừng hoặc tạm ngừng kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thì cơ quan thuế căn cứ văn bản yêu cầu ngừng hoặc tạm ngừng của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh mức thuế khoán theo thực tế cho thời gian yêu cầu ngừng hoặc tạm ngừng kinh doanh”.

Doanh thu cho thuê nhà dưới 100 triệu đồng/năm không phải nộp thuế

Liên quan đến việc Tuổi trẻ đưa tin: “Doanh thu cho thuê nhà dưới 100 triệu đồng/năm vẫn phải nộp thuế” phản ánh về hướng dẫn mới đối với hoạt động cho thuê nhà tại Thông tư số 40, Tổng cục Thuế cũng đã có phản hồi làm rõ.

Theo đó, cơ quan thuế cho biết, theo hướng dẫn tại điểm c khoản 1 Điều 9 Thông tư số 40/2021/TT-BTC thì: “Cá nhân cho thuê tài sản không phát sinh doanh thu đủ 12 tháng trong năm dương lịch (bao gồm cả trường hợp có nhiều hợp đồng cho thuê) thì mức doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định cá nhân cho thuê tài sản không phải nộp thuế GTGT, không phải nộp thuế TNCN là doanh thu tính thuế TNCN của một năm dương lịch (12 tháng); doanh thu tính thuế thực tế để xác định số thuế phải nộp trong năm là doanh thu tương ứng với số tháng thực tế phát sinh cho thuê tài sản”.
Do đó, theo hướng dẫn này thì các trường hợp có doanh thu cho thuê tài sản đủ 12 tháng trong dương lịch từ 100 triệu đồng/năm trở xuống thuộc diện không phải nộp thuế.
Với trường hợp hợp đồng cho thuê có thời gian vắt năm, thời gian cho thuê tính theo năm dương lịch không trọn năm thì doanh thu để xác định đối tượng không phải nộp thuế vẫn là doanh thu tính thuế của một năm dương lịch (đủ 12 tháng), nhưng doanh thu để xác định số thuế phải nộp trong năm chỉ là doanh thu tương ứng với số tháng thực tế phát sinh cho thuê tài sản.

Ngoài ra, trong trường hợp cá nhân vừa có cho thuê tài sản vừa có hoạt động kinh doanh khác thì theo quy định mức doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định đối tượng không phải nộp thuế là tổng doanh thu kinh doanh bao gồm cả hoạt động kinh doanh khác, do đó, cần phải có nguyên tắc thống nhất giữa các hoạt động kinh doanh.

TUẤN VIỆT