Vĩ mô

Đề xuất gói hỗ trợ phục hồi kinh tế lên tới gần 844.000 tỷ đồng

Hoàng Hà
BizLIVE - Tổng gói hỗ trợ đề xuất chiếm khoảng 10,38% GDP, trong đó, chính sách tài khóa 678.395 tỷ đồng, chính sách tiền tệ 65.000 tỷ, chính sách an sinh xã hội 12.800 tỷ, chính sách khác 36.650 tỷ, đầu tư của SCIC vào doanh nghiệp 50.000 tỷ đồng.
Đề xuất gói hỗ trợ phục hồi kinh tế lên tới gần 844.000 tỷ đồng
TS.Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV nêu một số gợi ý chính sách tài khóa và tiền tệ hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội tại diễn đàn - Ảnh: Quốc hội
Đây là nội dung quan trọng nhất trong một số gợi ý chính sách tài khóa và tiền tệ hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội được TS.Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, đại diện nhóm nghiên cứu của Thường trực Ủy ban Kinh tế và các chuyên gia trình bày tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2021: Phục hồi và phát triển bền vững sáng ngày 5/12.
Việt Nam đang "lỡ nhịp" với thế giới
Theo nhóm nghiên cứu, kinh nghiệm quốc tế về hỗ trợ người dân và doanh nghiệp trong đại dịch là dùng cả chính sách tài khóa (CSTK) và chính sách tiền tệ (CSTT); trong đó, CSTK là chủ yếu.
Cụ thể, theo số liệu mà nhóm nghiên cứu tổng hợp, đến tháng 10/2021, các gói hỗ trợ tài khóa và tiền tệ toàn cầu đạt 18.272 tỷ USD (16,4% GDP 2020). Trong đó, các gói hỗ trợ tài khóa là 11.281 tỷ USD (10,2% GDP, chiếm 61,7%); các gói hỗ trợ tiền tệ là 6.991 tỷ USD (6,2% GDP, chiếm 
38,3%). 
Quy mô các gói hỗ trợ đã thực hiện của Việt Nam còn khá khiêm tốn so với toàn thế giới và một số nhóm nước - Nguồn: Nhóm nghiên cứu
Trên thế giới, các chính sách tài khóa chủ yếu tập trung vào tăng chi y tế cho phòng chống dịch COVID-19, nghiên cứu và sản xuất vaccine; chi bảo đảm an sinh xã hội, trợ cấp bằng tiền mặt cho người dân; trợ cấp thất nghiệp, tiền điện, nước; hỗ trợ tiếp cận vốn cho doanh nghiệp thông qua cho vay ưu đãi, bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ lãi suất; giãn, hoãn nộp thuế và các khoản nộp an sinh xã hội; giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế VAT; đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng; cho doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động được vay vốn từ các quỹ Nhà nước thông qua ngân hàng. 
Về các chính sách tiền tệ - tín dụng chủ yếu hướng vào nới lỏng chính sách tiền tệ (hạ lãi suất cơ bản, một số ít hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc, nới lỏng định lượng...); nới lỏng quy định về về cơ cấu lại nợ, phân loại nợ; cho phép NHTW mua trái phiếu Chính phủ để đáp ứng nhu cầu chi y tế, bảo trợ xã hội; hỗ trợ phát hành trái phiếu của các TCTD để cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa; tăng bảo lãnh, tái cấp vốn đối với TCTD để khuyến khích cho vay ưu đãi, phát triển cơ sở hạ tầng và các chương trình trọng điểm.
Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế cũng như những thách thức trong nước và quốc tế, nhất là thách thức rất lớn trong nước như dịch bệnh còn diễn biến phức tạp, nguồn cung vaccine còn chưa chắc chắn, GDP cả năm 2021 chỉ khoảng 2%; nền kinh tế đang có dấu hiệu “lỡ nhịp”, lỡ cơ hội, tụt hậu; người dân và doanh nghiệp rất khó khăn; giải ngân đầu tư công chậm, trong khi nợ xấu gia tăng... nhóm nghiên cứu cho rằng cần phải sớm có thêm gói hỗ trợ kết hợp giữa CSTK và CSTT.
Theo đánh giá của nhóm nghiên cứu, dư địa mở rộng CSTK là vẫn còn và có phần thuận lợi hơn CSTT. Theo đó, thu NSNN năm 2021 nhiều khả năng đạt 100% kế hoạch; thâm hụt NSNN và nợ công được kiểm soát tốt giai đoạn trước; quy mô hỗ trợ tài khóa mới gần 3% GDP; các cân đối lớn (thâm hụt ngân sách/GDP, nợ công/GDP, nghĩa vụ trả nợ/thu NSNN, lạm phát…) vẫn trong ngưỡng an toàn; dư địa để nới trần nợ công còn.
Trong khi đó, với CSTT, dư địa hạ lãi suất và tăng trưởng tín dụng còn, nhưng không nhiều do như lãi suất ở mức thấp trong vòng 20 năm; sức hấp thụ vốn của nền kinh tế còn yếu; áp lực lạm phát ở mức cao (ít nhất là trong năm 2022); một số nước trên thế giới bắt đầu thu hẹp nới lỏng định lượng và tăng lãi suất; ưu tiên đảm bảo ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát và đảm bảo an toàn, bền vững hệ thống các TCTD (nhất là bối cảnh nợ xấu gia tăng).
Chi tiết đề xuất về chính sách tài khóa
Cụ thể, về CSTK, nhóm nghiên cứu đề xuất gói hỗ trợ có giá trị thực tế là 389.200 tỷ đồng, chiếm 4,79% GDP. Trong đó, lớn nhất là tăng đầu tư cơ sở hạ tầng trong hai năm 2022 - 2023 với 150.000 tỷ đồng.
Về CSTT, nhóm đề xuất tiếp tục thực hiện Thông tư 14; sử dụng công cụ nghiệp vụ thị trường mở (cả tỷ lệ dự trữ bắt buộc phù hợp) để hỗ trợ các TCTD duy trì lãi suất ở mức thấp, phấn đấu giảm thêm 0,5-1% lãi suất cho vay bình quân trong năm 2022 và duy trì ổn định trong năm 2023; cho vay tái cấp vốn các TCTD để cho vay nhà ở.
Cùng với đó, nghiên cứu giữ nguyên tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn; linh hoạt chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng ở mức 13-14% trong hai năm 2022-2023; tiếp tục hoàn thiện thể chế, quy định để các tổ chức tín dụng phi ngân hàng tham gia cho vay tiêu dùng an toàn, lành mạnh; đề xuất phương thức luật hóa xử lý nợ xấu…
Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng đề xuất chính sách hỗ trợ an sinh xã hội khoảng 12.800 tỷ đồng thông qua hỗ trợ tiền thuê nhà cho lao động ngoại tỉnh đến làm việc tại 4 vùng kinh tế trọng điểm; hỗ trợ đào tạo nghề.
Bên cạnh đó, hỗ trợ 37.650 tỷ đồng thông qua các chính sách khác như giảm 10% tiền điện, cước, viễn thông năm 2022; hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi; hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; tài trợ các dự án nâng cấp, đổi mới công nghệ của doanh nghiệp trong lĩnh vực chế biến, chế tạo.
Tổng các chính sách, gói hỗ trợ - Nguồn: Tính toán của nhóm nghiên cứu
Như vậy, tổng giá trị công bố của các gói hỗ trợ là 843.845 tỷ đồng, chiếm 10,38% GDP, tổng giá trị thực tế là 445.760 tỷ đồng, chiếm 5,48% GDP.
Chấp nhận thâm hụt ngân sách tăng 1%/năm để có nguồn lực
Theo nhóm nghiên cứu để huy động đủ nguồn lực thực hiện các chính sách cần chấp nhận thâm hụt ngân sách có thể tăng thêm 1 điểm % mỗi năm trong hai năm 2022-2023. 
Về nguồn lực huy động lớn nhất là từ phát hành trái phiếu Chính phủ (TPCP) để huy động 220.060 tỷ đồng; tiếp đến là đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn doanh nghiệp Nhà nước để thu về 80.000 tỷ; sử dụng bảo hiểm tiền gửi, bảo hiểm xã hội để mua TPCP 51.100 tỷ; tiết giảm chi phí 29.200 tỷ; rà soát các quỹ ngoài ngân sách 20.000 tỷ; thậm chí sử dụng một phần dự trữ ngoại hối (nếu cần). 
Để các chính sách thực hiện có hiệu quả, nhóm nghiên cứu cho rằng cần đáp ứng quan điểm, mục tiêu và tiêu chí hỗ trợ đã vạch ra. Cùng với đó, triển khai nhanh chóng và có tính đến năng lực thực hiện tại các đơn vị, địa phương. Đồng thời, hết sức quan tâm tháo gỡ các rào cản thể chế để tăng khả năng hấp thụ, mới đảm bảo các chính sách phát huy hiệu quả; tính toán tác động và có giải pháp kiểm soát rủi ro các cân đối lớn (nợ công, thâm hụt ngân sách, nghĩa vụ trả nợ…); kiểm tra, giám sát chống lãng phí, lợi ích nhóm…
Đánh giá tác động chính sách, nhóm nghiên cứu nêu ra hai kịch bản, kịch bản 1 là bình thường và kịch bản 2 là tích cực, lạc quan, trong đó kịch bản 1 khả năng xảy ra cao hơn.
Như vậy nếu không có chương trình hỗ trợ, theo kịch bản 1, GDP năm 2021 chỉ đạt 2%, năm 2022 đạt 4% và 2023 đạt 6%, còn nếu có chương trình hỗ trợ thì GDP năm 2021 vẫn là 2% nhưng năm 2022 tăng lên 6% và năm 2023 là 7,5%.
Về tác động tới nghĩa vụ trả nợ (% tổng thu NSNN), nghĩa vụ trả nợ sẽ tăng thêm 0,17% điểm % năm 2022 và 0,34 điểm % năm 2023 (kịch bản 1); tăng thêm 0,16 điểm % năm 2022 và 0,31 điểm % năm 2023 (kịch bản 2).
Nguồn tiền được giải ngân cũng sẽ khiến áp lực lạm phát tăng. Theo đó, lạm phát năm 2022-2023 được dự báo ở mức 3,5-3,9%. Trong khi đó, việc tăng vay nợ, thâm hụt NSNN tăng, có thể khiến cho giá trị VND giảm nhẹ, dự báo tỷ giá USD/VND sẽ tăng từ 0,5-1,5% trong năm 2022-2023. 

HOÀNG HÀ

Xem bản Desktop