Vĩ mô

ADB dự báo kinh tế Việt Nam sẽ tăng tốc phát triển trong năm sau

Ngọc Diệp
BizLIVE -

Trong ngắn hạn còn nhiều thách thức khiến kinh tế Việt Nam tăng trưởng chậm, có thể đạt mức tăng 3,8% trong năm nay, tuy nhiên ADB nhận định lạc quan về triển vọng trong trung và dài hạn.

ADB dự báo kinh tế Việt Nam sẽ tăng tốc phát triển trong năm sau
Kinh tế Việt Nam dự kiến tăng trưởng chậm hơn do sự bùng phát trở lại của dịch COVID-19, đã làm gián đoạn nguồn lao động, giảm sản lượng công nghiệp và gây đứt gãy chuỗi giá trị nông nghiệp, báo cáo của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) công bố ngày hôm nay cho biết.
Theo Báo cáo cập nhật Triển vọng Phát triển Châu Á (ADO) 2021, kinh tế Việt Nam dự kiến đạt mức tăng trưởng 3,8% trong năm nay và 6,5% vào năm 2022. 
Tăng trưởng đã phục hồi trong nửa đầu năm 2021, chủ yếu do lưu lượng thương mại tăng cao, nhưng đã chậm lại trong nửa cuối năm do làn sóng thứ tư của đại dịch ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và thị trường lao động. Lạm phát dự báo sẽ được kiềm chế trong năm 2021 và 2022 do tốc độ tăng trưởng chậm lại.
“Đại dịch COVID-19 và các đợt phong tỏa kéo dài đã làm suy yếu tiêu dùng và đầu tư, hạn chế triển vọng tăng trưởng của Việt Nam”, ông Andrew Jeffries, Giám đốc Quốc gia của ADB tại Việt Nam nhận định. “Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi trở lại nếu đại dịch COVID-19 được kiểm soát vào cuối năm 2021 và đến quý II năm 2022 có 70% dân số cả nước được tiêm chủng”.
ADB vẫn lạc quan về triển vọng tăng trưởng của Việt Nam trong trung và dài hạn.
Tăng trưởng có thể được hỗ trợ bởi sự phục hồi của cầu nội địa, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, mở rộng hoạt động sang các thị trường xuất khẩu mới do các hiệp định thương mại mang lại, và sự phục hồi của nền kinh tế toàn cầu.
Tuy nhiên, triển vọng tăng trưởng trong ngắn hạn có nhiều thách thức. Rủi ro chính là đại dịch kéo dài, đặc biệt nếu tỷ lệ tiêm chủng trên toàn quốc không tăng đáng kể.
Nói về việc liệu có mô hình của nước nào phù hợp với Việt Nam trong công tác chống dịch hiện nay, Giám đốc Quốc gia của ADB trả lời: “Tôi không thể đề cập cụ thể đến bất kỳ quốc gia nào, thế nhưng tôi nghĩ đó sẽ là đất nước có tỷ lệ tiêm vắc xin COVID-19 cao, tiến độ tiêm nhanh và nhờ vậy kinh tế phục hồi nhanh. Virus corona vẫn tồn tại ở những nước này nhưng nhờ vào tỷ lệ tiêm vắc xin COVID-19 cao, hoạt động kinh tế vẫn có thể tiếp diễn”.
Tăng trưởng cũng phụ thuộc vào việc Chính phủ kịp thời cung cấp các mặt hàng thiết yếu, như thực phẩm và tiền mặt, cho các nhóm dân cư dễ bị tổn thương đang bị ảnh hưởng bởi đại dịch.
Việt Nam có thể hưởng lợi từ việc loại bỏ các rào cản hành chính đối với doanh nghiệp và người dân, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số để nâng cao hiệu quả của các biện pháp kiểm soát đại dịch và hỗ trợ sự phục hồi bền vững của nền kinh tế trong năm nay và năm tới.
Trước những hoài nghi về việc liệu có phải thanh khoản hệ thống tín dụng ngân hàng đang “gặp khó”, chuyên gia kinh tế của ngân hàng ADB, ông Nguyễn Minh Cường, nhấn mạnh: “Mặc dù tiền gửi của tổ chức, cá nhân có xu hướng chững lại, nhưng với lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước (SBV) vẫn đang ở mức thấp  và SBV luôn sẵn sàng can thiệp để tăng thanh khoản cho hệ thống, chính vì vậy về mặt thanh khoản ngân hàng, ADB cho rằng hiện không có vấn đề gì”.
Nhận xét về tăng trưởng tín dụng, ông Cường chỉ ra theo quan điểm của ông Andrew Jeffries, tăng trưởng tín dụng của Việt Nam năm nay hoàn toàn có thể đạt mức 12%, tuy nhiên trong bối cảnh chưa có tiền lệ, hệ thống ngân hàng đã làm gần như hết sức mình để hỗ trợ cho doanh nghiệp và nền kinh tế. Với việc hạ lãi suất như thời gian qua, lợi nhuận ngân hàng ước tính giảm khoảng 1 tỷ USD trong năm 2021. 
Nhìn chung mà nói, theo ông Cường, dường như chính sách tiền tệ và hệ thống ngân hàng đã “gồng mình” lên rất nhiều, bên cạnh chính sách tiền tệ vẫn còn chính sách tài khóa. Theo ông Cường, dường như kể cả từ trước COVID-19, Việt Nam vẫn dựa quá nhiều vào hệ thống ngân hàng, 60% tín dụng của nền kinh tế là từ hệ thống ngân hàng. “Ngoài ngân hàng ra, cũng cần tính đến sự hỗ trợ của nguồn vốn khác và cân nhắc xem liệu đã huy động hết chưa?”, ông Cường đặt câu hỏi. 
Ông Cường phân tích trong bối cảnh hiện nay, với những doanh nghiệp có khả năng vay, đó là nhóm doanh nghiệp có khả năng sản xuất nhưng chưa thể đáp ứng ngay  về các điều kiện đi vay ví như thế chấp, vậy cũng cần tính đến cơ chế cho nhóm doanh nghiệp này bởi tất nhiên không thể ép ngân hàng hạ tiêu chuẩn tín dụng để cho vay được. 
Ông Cường cho rằng cần cơ chế hỗ trợ nhóm doanh nghiệp này, vì thế cần đến cơ chế bảo lãnh tín dụng hoạt động mạnh mẽ và hiệu quả hơn bởi thực tế cơ chế này đã có nhưng cho đến giờ doanh nghiệp dường như chưa tiếp cận được nhiều. Việc có được cơ chế bảo lãnh tín dụng đặc biệt thực sự cần thiết vào lúc này. 
Cũng theo ông Cường, có rất nhiều nguồn vốn từ bên ngoài sẵn sàng vào Việt Nam để hỗ trợ cho tăng trưởng xanh nhằm hỗ trợ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng cơ chế của Việt Nam giờ lại đang đóng và thực sự đây là điều đáng tiếc, ông Cường khẳng định. 
Trước đây đã có một số tổ chức thông qua các ngân hàng thương mại để cho doanh nghiệp vay nhưng đến giờ cơ chế này gần như đã đóng. Ông Cường lo ngại nếu chỉ dựa vào ngân hàng để có nguồn vốn, sẽ đến lúc hệ thống ngân hàng bị quá tải, chính vì vậy cần đến cơ chế mới để đón các nguồn vốn từ bên ngoài vào.

NGỌC DIỆP

Xem bản Desktop